Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

25 – Sự Chuyển Đổi của Thời Cuộc 


Chương 25
Sự Chuyển Đổi của Thời Cuộc

Những cuộc bầu cử ở Việt Nam tuy sôi nổi là thế mà vẫn chỉ là một phần của toàn thể khung cảnh Việt Nam. Mặc dù Việt Nam đang trải qua một giai đoạn chính trị tương đối ổn định so với hai năm về trước và những đe dọa của Cộng Sản không còn rõ rệt, nhưng cũng vẫn còn rất nhiều khó khăn ở khắp mọi nơi đang tiềm ẩn phía dưới bề mặt yên tĩnh. Nhiều người Việt Nam đã tỏ vẻ thắc mắc khi nhận thấy Hoa Kỳ hiện diện gần như trong tất cả mọi lãnh vực của đời sống hàng ngày. Họ cảm thấy bất bình khi Việt Nam phải lệ thuộc ngày một nhiều hơn vào đồng minh Hoa Kỳ. Tuy những nhân viên Hoa Kỳ hoàn toàn khác hẳn với những thực dân Tây về trước, người dân vẫn không thể tránh tự hỏi làm sao Việt Nam lại có thể vẫn giữ được chủ quyền và độc lập nếu người Hoa Kỳ lúc nào cũng đứng đầu điều hành mọi chuyện, từ cách hướng dẫn những phát triển kinh tế cho đến cách điều động chiến cuộc?

Nỗi lo lắng của họ còn tăng thêm vì những thói quen “tự mình hành động” của Hoa Kỳ. Chẳng hạn như tại các quận lị, người Hoa Kỳ đã nóng lòng thi hành các chính sách cho đến nỗi họ tự mình làm lấy mọi chuyện. Khi làm việc họ chỉ thông báo gọi là với các quận trưởng mà thôi. Ngoài ra, khi soạn thảo các kế hoạch quân sự, các sĩ quan Hoa Kỳ rất ít khi thông báo chi tiết cho các sĩ quan Việt Nam về những kế hoạch qui mô. Phần lớn Bộ Tham Mưu Việt Nam không hề được thông báo rõ những hoạt động thường nhật của các lực lượng Hoa Kỳ.

Chẳng những vậy, đến ngay cả những vấn đề đại cương về chiến lược cũng là một vấn đề tranh luận giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Các tướng lãnh Việt Nam tin rằng chính sách tiêu diệt hiệu lực nhất là “tấn chiếm Bắc Việt,” tấn công mạnh vào tận sào huyệt hoặc ít ra là phải tạo được một khí thế hăm dọa vượt lên trên vĩ tuyến 17. Nhưng những cố vấn Hoa Kỳ lại cho rằng đây là những ý kiến thiếu thực tế. Họ nói với những sĩ quan Việt Nam, dĩ nhiên với một cung cách rất lễ phép, rằng Việt Nam còn chưa giải quyết ổn thỏa được những việc khó khăn ngay trong nội bộ thì làm sao lại có thể dự định đến việc thôn tính Bắc Việt? Thật ra thì Hoa Kỳ vẫn còn bị những kinh nghiệm đau thương ở Đại Hàn ám ảnh. Họ vẫn cố dàn xếp để tránh khỏi bị nghi rằng họ có ý khiêu khích những người Trung Hoa hiếu chiến. Chánh sách của họ ở Việt Nam đã bị những bài học của chiến tranh Đại Hàn ảnh hưởng rất nhiều.

Nếu đứng trên quan niệm quốc tế mà luận thì có lẽ việc Hoa Kỳ tuyên bố rõ họ sẽ không tấn công Bắc Việt cũng dễ hiểu, nhưng dù sao đi nữa thì những người Việt Nam vẫn cho rằng việc Hoa Kỳ quyết định tuyên bố thẳng cho Bắc Việt biết rõ những dự định của Miền Nam Việt Nam cũng là một hành động hoàn toàn vô lý. Một khi Hoa Kỳ bị buộc phải hành động theo những họ lời tuyên bố thì dĩ nhiên những hoạt động quân sự của họ bị quản thúc trong những vòng đai của “một cuộc chiến tranh giới hạn.” Khi tuyên bố không tấn chiếm Bắc Việt, Hoa Kỳ đã tự ép mình vào những quy ước đơn phương và rồi hành động như thể tin rằng khi họ tự đưa mình vào khuôn khổ như vậy thì Bắc Việt cũng sẽ tự động ép mình chung vào những quy luật họ đã đề ra. Dĩ nhiên Hoa Kỳ là một thế lực siêu cường và vì vậy những hành động của họ phải được phân tích qua một tầm nhìn tổng quát, bao gồm cả những yếu tố khác như phản ứng vủa Sô Viết và những ý định can thiệp của Trung Hoa. Nhưng đối với Việt Nam thì việc lại hoàn toàn khác hẳn. Đất nước Việt Nam lúc này đang đắm chìm trong chiến cuộc. Lãnh thổ Việt Nam đang bị xâm lấn. Việt Nam đang phải đối diện với những hiểm họa sinh tử. Tuy Hoa Kỳ vẫn tuyên bố rằng đây là cuộc chiến của Việt Nam, nhưng mỗi khi cần quyết định thì họ lại gạt bỏ hẳn những suy xét của Việt Nam ra ngoài.

Dĩ nhiên cũng có rất nhiều lý do chánh đáng khác cho phép Hoa Kỳ giải thích vấn đề vì sao họ lại hay tự mình hành động. Chẳng hạn như vấn đề khác biệt về tầm vóc của hai đồng minh, cá tính thụ động của người Việt, khuynh hướng cố tránh né những vấn đề cần trực diện của người Á Châu và khuynh hướng dễ đồng ý hoặc tỏ vẻ đồng ý của người Việt trong mọi vấn đề. Chẳng những thế, ấn tượng xấu của Hoa Kỳ về những người Việt Nam còn sâu đậm hơn vì phần đông các nhân viên Hoa Kỳ đều tin rằng đa số công chức và sĩ quan của Việt Nam đã làm việc không có hiệu quả mà lại còn tham nhũng nữa. Mặt khác, thì những người Việt Nam lại cho rằng người Hoa Kỳ không hiểu những tập tục và quan niệm của dân chúng Việt Nam. Hậu quả là việc hợp tác hữu hiệu giữa người Hoa Kỳ và Người Việt rất ít khi đạt được tới mức mọi người chờ đợi. Chẳng những vấn đề khó khăn đang đầy dẫy ở Việt Nam mà ngay cả ở Hoa Thịnh Đốn, bầu không khí cũng bắt đầu căng thẳng. Chiến cuộc vào mùa hạ năm 1967 có vẻ tương đối yên tĩnh, nhưng ở quốc hội một người bạn đã bảo tôi: “Ngoài mặt khung cảnh tuy mang vẻ an bằng phẳng lặng của mặt nước triều nhưng hãy coi chừng những giòng nước ngầm phía dưới.” Lúc này Hoa Kỳ đã chịu rất nhiều tổn thất trong nỗ lực can thiệp vào cuộc chiến Việt Nam. Tuy thế, họ vẫn chưa hề gặt hái được những kết quả như ý. Những khó khăn mà Hoa Kỳ đang phải đối phó đã tạo nên một bầu không khí căng thẳng ngấm ngầm chưa hề thấy trong mấy năm về trước.

Tôi đã biết rõ rằng những nhân vật phản chiến lúc nào cũng chỉ biết chống chiến tranh một cách cực đoan và một chiều, nên lúc này, khi cần phải nhận định rõ tình hình thay đổi thực sự ra sao, tôi đã để hết tâm trí vào việc tìm hiểu ý kiến của những nhân vật từ trước đến nay vẫn ủng hộ chiến cuộc. Những người tôi đặc biệt chú tâm đến là Thượng Nghị Sĩ John Stennis của tiểu bang Mississippi, Thượng Nghị Sĩ Henry Jackson của Hoa Thịnh Đốn và Thượng Nghị Sĩ Strom Thurmond của tiểu bang South Carolina. Đây là những Thượng Nghị Sĩ vừa được nhiều người biết đến lại vừa có tầm ảnh hưởng lớn rộng đối với Ủy Ban Quân Sự (Arm Service Committee). Mặc dù những Thượng Nghị Sĩ kể trên vẫn tiếp tục ủng hộ chiến cuộc Việt Nam, càng ngày họ lại càng thất vọng hơn khi thấy Hoa Kỳ không hề có kế hoạch nào khác hơn ngoài chiến lược No-Win Limited Strategy (Giới Hạn Chiến Tranh và không lấy chiến thắng làm mục tiêu.)

Cả ba Thượng Nghị Sĩ vừa kể và nhiều nhân vật khác tôi đã tiếp xúc đều tỏ vẻ quan tâm đến những ảnh hưởng bất lợi và những phí tổn mà Hoa Kỳ phải gánh chịu ở Việt Nam. Vào ngày 10 tháng 8 năm 1967, TT Johnson đã đưa ra một bản dự thảo luật thuế đánh thêm 10% vào những nguồn lợi tức tư nhân và các công ty. Trước đây, những nhân viên chánh phủ lúc nào cũng bảo tôi rằng chắc chắn quốc hội sẽ thông qua đạo luật mới của tổng thống. Vậy mà lúc này họ lại tỏ ra lo lắng. Một chuyên viên trong quốc hội phục vụ trong Bộ Ngoại Giao đã bảo tôi: “Lại sắp bắt đầu một năm mới và chúng ta phải cẩn thận đề phòng.”

Lúc đầu tôi tưởng việc nhận định rõ tình hình chắc cũng không lấy gì làm khó khăn, nhưng càng đi sâu vào vấn đề tôi lại càng nhận rõ tầm mức phức tạp của công việc. Cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn đều thay đổi gần như liên tục. Giữa những khung cảnh xoay chuyển đó, tôi vừa phải đối phó với các biến cố đang xoay chuyển lại vừa phải cố dung hòa những khác biệt giữa hai cách nhìn vấn đề ở hai thủ đô. Tôi đã tiếp xúc với những phụ tá của các Thượng Nghị Sĩ. Những nhân viên phụ tá mà tôi tiếp xúc thường là những người trực tiếp đối phó với những vấn đề tỉ mỉ trong thực tế nên họ thường có tầm nhìn chi tiết hơn là thượng cấp của họ. Công việc lượng định và tái lượng định vấn đề diễn ra tưởng chừng như chẳng bao giờ dứt. Những đòi hỏi của công việc thật là vô bờ. Đã hơn một lần tôi tự hỏi liệu mình có thực sự đủ sức hay không?

Giữa những khung cảnh biến chuyển của cả hai thủ đô, chính tổng thống Johnson cũng đã cảm thấy chỗ đứng của mình bị lay chuyển. Khi giới báo chí và truyền thanh bắt đầu tuyên bố rằng Hoa Kỳ đang sa lầy trong cuộc chiến Việt Nam và những dân biểu ở quốc hội Hoa Kỳ càng ngày càng chống đối gắt gao thêm, TT Johnson cho rằng đã đến lúc ông phải tích cực đối phó với tình thế. Để trình bày rõ thiện chí của mình đối với những người đang đòi hỏi phải có một giải pháp hòa bình, vào ngày 29 tháng 9, trong một buổi diễn văn chiếu khắp toàn quốc, tổng thống Johnson tuyên bố: Hoa Kỳ “sẽ ngưng tất cả các cuộc dội bom nếu đàm phán hòa bình giữa hai phe có hy vọng tiến triển.” Lần này đề nghị của tổng thống Johnson đã có phần mềm mỏng hơn những đề nghị của ông khi trước. Trong lần đề nghị lần trước hai nhân viên trong Bộ Ngoại Giao của Pháp là ông Raymond Aubrac và ông Herbert Marcovich đã cố đứng ra làm môi giới để Hoa Kỳ có thể đàm phán với Bắc Việt. Lần này tuy hai nhân viên Pháp có báo trước rằng Hà Nội sẽ mềm dẻo hơn mà lời đề nghị của tổng thống Johnson vẫn bị Bắc Việt bác bỏ. Cuộc oanh tạc lại chuyển thành dữ dội.

Khi cuộc oanh tạc Bắc Việt ngày càng leo thang khốc liệt thì phản ứng của giới phản chiến ở Hoa Kỳ cũng trở nên khốc liệt theo. Vào tháng 10, đã có những cuộc chống đối rất lớn ở Ngũ Giác Đài bao gồm cả những nhân vật lừng danh ở Hoa Kỳ như hai văn hào Norman Mailer và Arthur Miller. Cùng lúc này, tờ Life, một tạp chí từ trước tới nay vẫn ủng hộ các chính sách của tổng thống Johnson đã lên án cuộc chiến trong mục bình luận. Khi quốc hội Hoa Kỳ mở đầu phiên họp mùa thu thì những cảnh tượng chống đối ồ ạt diễn ra ngay trước mắt các dân biểu và Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ. Lúc này, các dân biểu và Thượng Nghị Sĩ vừa mới trở lại quốc hội và những chuyến nghỉ mát thoải mái trong mùa hạ của họ vừa kết thúc. Khung cảnh căng thẳng của quốc hội đã khiến bầu không khí của buổi họp chuyển thành trầm trọng.

Kể từ đầu mùa thu năm 1967, tôi đã bỏ ra hầu hết thời giờ để lượng định những biến cố đang diễn ra ở Hoa Thịnh Đốn. Càng ngày tôi càng lo lắng vì thấy những phong trào phản chiến đang mỗi lúc một tăng. Những người bạn Hoa Kỳ vẫn bảo tôi rằng sự thiên kiến của giới truyền thông và những phong trào chống đối ở Hoa Kỳ lúc này chỉ phản ảnh một phần ý kiến của dân chúng Hoa Kỳ trong vùng Hoa Thịnh Đốn mà thôi, tôi vin vào ý kiến của họ để tự trấn an lấy mình. Và rồi để thử xem liệu những ý kiến của bạn bè có thực sự đúng hay không, tôi cũng bắt đầu tham gia những chuyến bay liên tục qua khắp hai vùng miền Tây và miền Nam Hoa Kỳ để thảo luận vấn đề chiến cuộc Việt Nam. Ngoài ra, tôi còn gia tăng thêm thì giờ đến nói chuyện ở các đại học.

Không phải lúc nào những buổi thuyết trình của tôi ở các đại học cũng như ý muốn. Tại một đại học ở tiểu bang Massachuusetts tôi đã bước lên khán đài để đối mặt với một đám đông đang hung hăng hò hét khẩu hiệu và reo hò: “Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.” Khi họ bắt đầu ném trứng lên khán đài, những người tổ chức buổi nói chuyện nói rằng có lẽ tôi nên rút lui. Nhưng tôi vẫn quyết định ở lại. Tôi đứng im giữa hội trường cho đến khi những tiếng reo hò lắng xuống rồi mới cầm Micro. Nhìn lá cờ Mặt Trận Giải Phóng của Việt Cộng phất phơ bay lượn trong đám khán giả, tôi đã nói một cách hết sức bình tĩnh rằng: “tôi đến đây với một lòng tin. Tôi tin vào truyền thống Hoa Kỳ trong việc cho phép tất cả những người có ý kiến được phép tự do phát biểu. Đây là điều duy nhất tôi chờ đợi ở các quí vị.” Sau khi tôi lên tiếng, đám đông bắt đầu yên lặng dần và tôi bắt đầu nói chuyện. Dĩ nhiên chấp nhận nhục nhã quả không phải là một chuyện dễ dàng nhưng tôi vẫn cắn răng chịu đựng. Lúc này, tôi còn có được một vài cơ hội để trình bày ý kiến của phía Việt Nam với dư luận Hoa Kỳ. Cho đến những năm 1967-1968, khi các phong trào phản chiến đã tiến đến cao điểm thì những cơ hội đó hoàn toàn mất hẳn.

Vào ngày 17 tháng 9-1967, tôi lại trở về Việt Nam để tường trình với ông Thiệu và ông Kỳ về những biến chuyển mới nhất ở Hoa Kỳ. Trước đây, tôi cũng đã có trình bày vấn đề những chính sách của TT Johnson đang mất dần sự ủng hộ của dân chúng, nhưng lần này tôi cố đi trực tiếp vào chi tiết. Tôi đưa rõ chi tiết của những biến chuyển trong quốc hội, trong giới báo chí và tường thuật rõ những sự chống đối trên các nẻo đường phố, trong khuôn viên đại học. Tôi đưa ra cả những suy luận của riêng tôi lẫn những suy luận của nhiều nhân vật cao cấp khác trong giới quân sự Hoa Kỳ. Tôi có nói rõ rằng Hoa Kỳ sẽ rút lui trong vòng năm năm nữa. Việt Nam phải sửa soạn trước để đối phó với vấn đề này.

Cách ông Thiệu và ông Kỳ nhận những lời bình luận riêng của tôi đã khiến tôi không mấy hài lòng. Cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ có vẻ xem những điều tôi nói chỉ là những việc xa xăm. Tuy tôi không được biết tường tận mọi chi tiết xảy ra trong nội bộ Việt Nam, nhưng tôi vẫn thấy rằng đầu óc của ông Thiệu và ông Kỳ đã bị những khó khăn nội bộ chiếm lĩnh. Những khó khăn đó chắc hẳn là có dính dáng đến vấn đề tranh chấp nội bộ. Chẳng những vậy, cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều không hiểu rõ những mấu chốt phía sau hệ thống chánh phủ Hoa Kỳ. Họ chẳng thể hiểu rõ những áp lực của các khối nghiệp đoàn (interest groups) vào việc chính phủ kiến tạo chính sách trầm trọng đến độ nào. Tuy lần nào quay về Sài Gòn tôi cũng ra công trình bày những điểm đặc biệt của chính trị Hoa Kỳ, chưa lần nào tôi thấy rõ lời nói của mình có được chút hiệu lực nào thiết thực.

Trong khí đó thì ở Hoa Thịnh Đốn, Tổng Thống Johnson lại hết mực chú tâm vào các biến chuyển đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Tên tuổi và chính sách của Tổng Thống Johnson gần như lúc nào cũng đi đôi với vấn đề chiến tranh. Chiến cuộc Việt Nam đối với ông thật là một yếu tố thập phần quan trọng. Ông luôn luôn tuyên bố rằng tình thế vẫn vững vàng, nếu không muốn nói là tiến triển khả quan. Vào ngày 2 tháng 10, ông đã bỏ thời giờ mời tôi cùng những đại sứ của Úc, Indonesia, Mã Lai, Đài Loan và Lào tới dùng bữa trưa ở Tòa Bạch Ốc. Tại đây ông lại trình bày thêm một lần nữa những chính sách đã công bố ở San Antonio về việc ngưng dội bom và quyết tâm kiến tạo hòa bình ở Đông Dương. Một tuần sau đó, để chứng tỏ rằng ông thực sự chú tâm đến vấn đề Đông Nam Á, ông lại bỏ thời giờ mời những giáo sư, viện trưởng của nhiều viện đại học Việt Nam đến Tòa Bạch Ốc để bàn luận vấn đề “kiến thiết quốc gia.” Đây là một kế hoạch nằm trong chương trình xây dựng Việt Nam. Một trong những nhà tu được mời là Thượng Tọa Thích Minh Châu, nguyên là người đứng đầu viện đại học Vạn Hạnh. Tôi phải nhận rằng trong bộ áo tăng màu, ông Thích Minh Châu đã hiện diện như để nhắc nhở rằng không phải tất cả Miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn nhuộm màu chiến tranh.

Cả đại sứ Bunker lẫn Tướng Westmoreland đều cùng bay về Hoa Kỳ để cổ võ cho những chính sách thuyết phục dân chúng của Tổng Thống Johnson. Việc cả hai nhân vật kể trên đều có thể rời Việt Nam cùng một lúc đã chứng tỏ rằng tình hình Việt Nam không đến nỗi ảm đạm như lời tường thuật của giới truyền thông. Trong một buổi nói chuyện với chương trình Meet The Press (Gặp Gỡ với Giới Báo Chí), Tướng Westmoreland còn tuyên bố rằng: “Chỉ trong vòng hai năm nữa, các lực lượng Bắc Việt sẽ suy đồi đến mức chúng ta có thể rút dần các lực lượng quân sự về nước.” Thật ra thì chỉ độ hơn một năm sau, TT Ric-hard Nixon đã ra lệnh rút quân.

Nhưng tất cả mọi nỗ lực thuyết phục dư luận của Tổng Thống Johnson đều thất bại khi có tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara từ chức. Bỗng dưng Tòa Bạch Ốc tuyên bố thật bất ngờ rằng Bộ Trưởng McNamara đã từ chức và được đề cử làm giám đốc Ngân Hàng Quốc Tế. Không hiểu vì lý lẽ gì mà giới báo chí ở Hoa Thịnh Đốn lại chẳng mảy may hay biết gì trước về quyết định của Bộ Trưởng McNamara. Tuy đã có vài lời đồn đại rằng Bộ Trưởng McNamara đã bắt đầu thất vọng với chiến cuộc Việt Nam, nhưng vẫn chưa ai tiên đoán được rằng ông sẽ từ chức. Lời tuyên bố từ chức của ông đến chẳng khác nào một biến chuyển khác thường và bất ngờ trong chính giới ở Hoa Thịnh Đốn.

Quan hệ giữa tôi và Bộ Trưởng McNamara chỉ là những quan hệ thông thường giữa một người đại sứ và một Bộ Trưởng trong chính phủ Hoa Kỳ. Nói chung thì người Việt Nam vẫn coi ông là con người điện toán, lúc nào cũng đặt nặng tầm quan trọng của các dữ kiện thống kê lên trên những khía cạnh có liên quan đến vấn đề nhân sự. Dĩ nhiên ông chẳng quan tâm gì mấy đến vấn đề cần xây đắp các mối liên hệ tốt đẹp với người Việt Nam. Ngược lại, trong một xã hội như xã hội Việt Nam vốn đã có truyền thống xem trọng nhân cách và những sự giao thiệp cá nhân, thì dĩ nhiên chẳng ai lại đặt trọng tâm vào những con số thống kê của ông McNamara. Quan niệm của Bộ Trưởng McNamara do vậy quả là một quan niệm khác thường. Cũng có thể quan niệm chung của các nhân viên Việt Nam về ông hoàn toàn lệch lạc, nhưng dù sao đi nữa, kể từ khi ông buông ra câu hỏi “Ai là người cầm đầu?” với các tướng tá Việt Nam vào năm 1964 thì người Việt Nam vẫn cho rằng ông là một người lạnh lùng và kiêu ngạo.

Nhưng dù có thế nào đi nữa thì Bộ Trưởng McNamara vẫn là nhân vật chủ chốt điều hành chiến cuộc. Việc từ chức bất ngờ của ông đã khiến Sài Gòn vô cùng hoang mang. Thông thường thì những thay đổi, dù có là những thay đổi ở các cấp cao nhất trong chánh phủ Hoa Kỳ, vẫn khó có thể làm Việt Nam xôn xao, nhưng trường hợp của Bộ Trưởng McNamara lại hoàn toàn khác hẳn. Việc ông từ chức đã gây ra hàng loạt câu hỏi. Bất kể mọi người nhìn ông bằng quan niệm nào, Bộ Trưởng McNamara cũng vẫn là hiện thân của những nỗ lực của Hoa Kỳ đối với chiến tranh Việt Nam nói chung. Do đó, nhiều người Việt Nam đã tự hỏi phải chăng nỗi thất vọng của ông phản ảnh đích thực những chán chường của dư luận Hoa Kỳ? Và nếu đây là sự thực thì những nhà lãnh đạo trong chính quyền Hoa Thịnh Đốn đã bị nỗi thất vọng này ảnh hưởng đến độ nào? Nói một cách chi tiết hơn: Phải chăng việc Bộ Trưởng McNamara từ chức có nghĩa là chính sách của chính phủ Hoa Kỳ đã bắt đầu đổi chiều?

Khi các bạn bè ở Hoa Thịnh Đốn và Bộ Ngoại Giao đưa lời trấn an, tôi cũng có gửi lời trấn an về Sài Gòn. Tuy thế, trong thâm tâm, tôi vẫn thắc mắc, tự hỏi chẳng hiểu nếu ngay cả những người như Bộ Trưởng McNamara mà còn quyết định bỏ cuộc thì viện trợ cho chiến cuộc còn tiếp tục được bao lâu nữa? Tôi cũng biết rằng chỉ còn vài tháng nữa là những cuộc vận động tranh cử tổng thống lại bắt đầu ở Hoa Kỳ.

Trong khi đó thì ở Việt Nam chiến cuộc vẫn tiếp diễn và không còn ở một mức độ rời rạc lẻ tẻ như trong mùa hạ trước đây. Vào giữa lúc Hoa Thịnh Đốn bắt đầu cố rũ bỏ can thiệp thì Bắc Việt lại gia tăng tấn công ào ạt. Trong một cuộc họp báo ở Hoa Thịnh Đốn, Tướng Westmoreland tuyên bố: “Tôi hy vọng Bắc Việt đang thử thách một kế hoạch nào đó, vì chính chúng tôi cũng đang cố dàn xếp cho cuộc đụng độ.” Các biến cố vào cuối tháng cho thấy ông không cần phải đợi lâu.

Vào tháng 10 Bắc Việt đã gia tăng hoạt động rõ rệt trông thấy. Không khí yên tĩnh mùa hè năm 1967 dường như mất hẳn vì những chiến dịch phát động phối hợp các lực lượng du kích và các lực lượng chính qui của Bắc Việt. Những hoạt động của du kích Bắc Việt chỉ lẻ tẻ vào lúc trước đột nhiên gia tăng dữ dội. Chẳng những vậy, Bắc Việt còn huy động các lực lượng chính qui và dùng những đơn vị lớn lao để đánh chiếm những mục tiêu đã được chọn lựa. Vào ngày 29 tháng 10, hai trung đoàn của sư đoàn 9 Bắc Việt tấn công vào quận lị thành phố Lộc Ninh, một thành phố cách biên giới Cam Bốt khoảng vài ki-lô-mét. Lộc Ninh chỉ được những lực lượng địa phương của quân đội Việt Nam bảo vệ. Tuy các lực lượng địa phương ở Lộc Ninh vẫn còn thiếu kinh nghiệm chiến trường và không được trang bị đầy đủ, khi được các đơn vị Việt Nam cùng sư đoàn I Hoa Kỳ hỗ trợ, quân đội Lộc Ninh đã chiến đấu anh dũng, đẩy lui và bắt các đội quân Việt Cộng phải chịu nhiều tổn thất.

Một tháng sau, 4 Trung Đoàn Bắc Việt tấn công vào Dakto, một thị trấn hẻo lánh gần biên giới Lào. Các cuộc đụng độ trên vùng đất Dakto hiểm trở thật là dữ dội. Cuộc đụng độ đã khiến Sư đoàn Dù 173 của Hoa Kỳ phải chịu 100 tổn thất. Ngược lại các lực lượng đối phương bị tiêu diệt và lại phải rút về những căn cứ ở Lào. Tuy trong các trận đụng độ qui mô, quân đội Việt Nam vẫn thắng thế nhưng khả năng và tinh thần chiến đấu của những đơn vị Bắc Việt quả một điềm bất tường đáng ngại.

Tin tức tình báo cho thấy Bắc Việt đang chuyển quân vào Nam qua các đường mòn Hồ Chí Minh và hai trận đụng độ ở Lộc Ninh, Dakto đã khiến những chuyên viên phân tích tình báo ở Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn tiên đoán rằng Bắc Việt đang tổ chức một cuộc tấn công cực kỳ qui mô. Nhìn những căn cứ đổ quân của Việt Cộng gia tăng dọc theo các vùng Phi Quân Sự và Thung Lũng Khe Sanh, Tướng Westmoreland tiên đoán cuộc tấn công sẽ diễn ra ở miền Trung. Ông chuyển các đơn vị về miền Trung và tăng cường Thủy Quân Lục Chiến dữ dội cho các căn cứ đóng ở Khe Sanh.

Khi đã kết luận về những mục tiêu tấn công của Bắc Việt, những chuyên viên tình báo quyết định bỏ qua những tin tức nằm trong các tài liệu tịch thu được. Tài liệu tịch thu cho thấy Bắc Việt sắp mở một cuộc tổng tấn công khác hẳn cuộc tấn công các chuyên viên tiên liệu. Kế hoạch được mô tả trong các tài liệu tịch thu diễn tả một cuộc tổng tấn công đại qui mô vào khắp nơi trong suốt toàn lãnh thổ Miền Nam Việt Nam phối hợp với cuộc tổng nổi dậy của toàn thể quần chúng, nhất loạt chiếm lấy các tỉnh và thành phố. Chiến lược diễn tả trong tài liệu tịch thu táo bạo và liều lĩnh đến mức chẳng ai có thể tin đây là sự thực. Cho đến mãi tận vài ngày trước Tết âm lịch những chuyên viên phân tích tình hình mới nhận chân được giá trị của những tài liệu họ đang nắm trong tay lúc này. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"