Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

23 – Khung Cảnh Hậu Trường 


Chương 23
Khung Cảnh Hậu Trường

Khung cảnh yên tĩnh ở Hoa Thịnh Đốn vào cuối tháng 3 năm 1967 thực là phù hợp với tâm trạng phấn khởi của chúng tôi khi từ Guam trở về. Ở Hoa Kỳ lúc này những phong trào phản chiến vẫn tiếp diễn và ngày càng lan rộng, nhất là ở các khuôn viên đại học. Những Thượng Nghị Sĩ chống đối chiến tranh Việt Nam điển hình nhất trong lúc này là những Thượng Nghị Sĩ của đảng dân chủ như các Thượng Nghị Sĩ Morse, Church, McGovern và Fullbright. Tuy các cuộc chống đối đang lan rộng nhưng trong cuộc bầu cử quốc hội Hoa Kỳ năm 1966 đa số các dân biểu và thượng nghị sĩ của đảng Dân Chủ vẫn thắng cử ở cả Hạ lẫn Thượng Viện và thời hạn nhiệm kỳ của Tổng Thống Johnson hãy còn dài. Vào thời gian này vẫn chưa ứng cử viên nào khác có đủ uy tín để có thể đứng ra tranh cử với Tổng Thống Johnson. Riêng về vấn đề ủng hộ Việt Nam thì tuy Hoa Kỳ không còn ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ như những lúc trước đây nhưng tầm mức ủng hộ lúc này vẫn đủ để tổng thống Johnson có thể thuyết phục quốc hội đổ thêm quân vào Việt Nam, lần này với con số 470,000.

Những bản lượng định tình hình chính trị tôi gửi về Sài Gòn vào lúc này bao gồm tất cả những điều tôi tổng kết sau những buổi thảo luận của tôi với cả giới báo chí lẫn chính quyền Hoa Kỳ. Gần như chẳng ngày nào là ngày tôi không bàn luận với các ký giả kỳ cựu của giới báo chí. Trong thời gian này, tôi đã tiếp xúc với các ký giả Joseph Kraft và Murray Marder, ký giả của tờ Washington Post; Tom Wicker, Hedrick Smith và Neil Sheehan, ký giả của báo New York Times; Crosby Noyes, ký giả của Washington Star và anh em ký giả Kalb, lúc đó đang làm việc cho CBS. Quan niệm của họ phản ảnh một phạm trù ý kiến chính trị thật là bao quát. Những cuộc gặp gỡ với các ký giả thật là có ích. Trong số những ký giả tôi đã tiếp xúc cũng có vài người bị chỉ trích rằng họ đã chú tâm quá đáng vào các vấn đề của Hoa Thịnh Đốn và vì vậy những cái nhìn của họ đôi khi thiển cận, nhưng phần nhiều thì những nhận xét của các ký giả vẫn thật là vô giá đối với tôi.

Dư luận thường cho rằng nếu cứ chú ý đến các ý kiến của các ký giả thì người nghe thường khó tránh khỏi bị chủ kiến của họ ảnh hưởng. Chuyện thật không hẳn là vậy. Đã đành rằng các ký giả quả có chủ kiến, nhưng người nghe vẫn có thể phân tích vấn đề để tránh bị các chủ kiến đó ảnh hưởng. Hơn nữa, những câu chuyện của giới báo chí biết lại thường là những tin tức ít người biết đến. Đã nhiều lần những câu chuyện của họ khiến tôi phải suy nghĩ những việc tôi chưa hề biết đến, hoặc phải duyệt lại những điều mà tôi cho là đúng chắc rồi.

Đối với những ký giả có thiên kiến hoàn toàn lệch lạc với cuộc chiến Việt Nam chẳng hạn như các ký giả Anthony Lewis và Mary McGrory thì tuy tôi vẫn nhận định rằng họ cũng là một phần quan trọng của cuộc sống chính trị, nhung tôi không hề thấy có nhiệm vụ phải tiếp xúc với họ bao giờ. Dĩ nhiên chẳng phải tất cả các phóng viên báo chí đều phải chống chiến tranh, nhưng đa số họ đều là những người lúc nào cũng nghi ngờ tất cả những tin tức của các chánh phủ bất kể là chánh phủ Hoa Kỳ hay chánh phủ Việt Nam. Bản tính đa nghi thường khiến họ tự nhìn vấn đề qua lăng kính riêng của họ và tự bỏ qua những điều họ cho là không đi đôi với những điều họ thấy. Đôi khi họ còn tự xem mình là những nguồn tiên tri cho cuộc chiến Việt Nam. Tôi thường tự hỏi chẳng hiểu sao họ lại có thể quá chủ quan đến mức như vậy? Đa số các đại sứ ngoại quốc ở Hoa Thịnh Đốn rất ít khi được tiếp xúc với Tổng Thống Hoa Kỳ. Những dịp gặp gỡ nếu có cũng thường chỉ là vào khi có một vài buổi tiệc hàng năm. Chính ngay cả trong những dịp gặp gỡ này, cuộc tiếp xúc cũng không vượt qua khuôn khổ của những cái bắt tay. Phần nhiều các đại sứ đều làm việc thường xuyên với các nhân viên phụ tá Ngoại Trưởng. Tuy thế, vì chiến cuộc Việt Nam là một vấn đề trầm trọng nên trường hợp của tôi lại hoàn toàn khác hẳn. Tôi đã có dịp bàn luận với Tổng Thống Johnson ở cuộc họp thượng đỉnh, sau đó lại có dịp tiếp xúc với ông nhiều hơn khi tôi cùng bay với ông về Hoa Thịnh Đốn.

Vào ngày 19 tháng 4, mới chỉ vẻn vẹn bốn tuần sau hội nghị thượng đỉnh ở Guam, tôi lại được gặp tổng thống Johnson thêm một lần nữa. Lần này tôi được mời tham dự cuộc họp SEATO, một cuộc họp kín mời hầu hết các ngoại trưởng và đại sứ của Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Hồi Quốc, Thái Lan, Phi Luật Tân, Anh Quốc và Việt Nam. Cuộc họp cấm hẳn các phóng viên báo chí. Tôi đã biết đây chỉ là một buổi họp nặng phần nghi lễ và chỉ nhằm mục đích nhấn mạnh sự quan tâm của Tổng Thống Johnson về các vấn đề Á Châu. Vì vậy tôi cho rằng đây là một buổi họp không quan trọng.

Trong buổi họp ở Tòa Bạch Ốc hôm đó, trông Tổng Thống Johnson hoàn toàn phấn khởi. Ông mới trở về sau chuyến du hành Nam Mỹ. Chuyến đi thoải mái đã mang lại cho ông nhiều sinh lực. Ông đề cập đến những vị trí quan trọng trong chiến lược Đông Nam Á. Tuy tổng thống Johnson chưa đi thẳng vào vấn đề nhưng hẳn nhiên ông đã gián tiếp nói về Việt Nam. Cũng vào chiều đó, tôi đã sắp xếp một buổi họp khác ở sứ quán Việt Nam và cần phải quay về để sửa soạn. Lúc này tôi chỉ mong cuộc họp sớm chấm dứt nên những lời bình luận tổng quát của Tổng Thống Johnson đã khiến tôi cảm thấy vô cùng sốt ruột.

Bỗng nhiên, khi cuộc họp gần kết thúc thì lại có một tùy viên đến đưa cho tôi mảnh giấy nhỏ nói rằng Tổng Thống có ý muốn gặp tôi và Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ ngay sau cuộc họp. Trên đường đến văn phòng tổng thống, cả cụ Đỗ lẫn tôi đều vừa bỡ ngỡ, vừa tò mò lại vừa lo lắng chẳng hiểu có chuyện gì. Chúng tôi đoán chắc đã hẳn sẽ phải có chuyện gì khác thường! Khi cụ Đỗ hỏi tôi, tôi đã than rằng: “Lẽ ra đây phải là câu hỏi của tôi mới đúng! Ông vừa từ Sài Gòn sang, ông có thấy chuyện gì khác thường bên đó không? Có thể lại có biến chuyển gì rắc rối về vụ Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant nữa không?”

Chúng tôi vào văn phòng tổng thống đúng lúc Tổng Thống Johnson đang đàm đạo cùng Ngoại Trưởng Dean Rusk. Chúng tôi vừa vào thì Ngoại Trưởng Rusk kéo ngay ông Đỗ về một bên và Tổng Thống Johnson dẫn tôi đi về phía bàn giấy của ông. Ông quàng vai tôi chẳng khác nào đang khuyên nhủ một người bạn thân. Ông cúi xuống như để cố giảm bớt phần nào khoảng cách giữa chiều cao vượt khổ của ông và chiều cao của tôi rồi nói nhỏ rằng ông đã được báo cáo về cuộc bầu cử Tổng Thống của Việt Nam và cả về ông Thiệu lẫn ông Kỳ. Tổng Thống Johnson phân trần: “Ông xem, dĩ nhiên tôi nào phải là người có quyền phán đoán liệu xem ông Thiệu hoặc ông Kỳ mới là ứng cử viên xứng đáng. Theo tôi thì cả hai đều xứng đáng, nhưng xin ông nhắn họ rằng dù thế nào đi nữa, họ phải cố gắng giữ cho được sự ổn định chính trị ở trong nước. Vấn đề này vô cùng quan trọng.”

Sự quan tâm của Tổng Thống Johnson về những vấn đề tranh chấp giữa ông Thiệu và ông Kỳ thật đã rõ rành rành. Ông Già (biệt danh của Tổng Thống Johnson) đã có quá nhiều gánh nặng trên vai rồi. Thế mà giờ đây ông lại phải quàng thêm một gánh nặng nữa tuy việc hoàn toàn không phải do lỗi nơi ông. Tôi cảm thấy cực kỳ hổ thẹn khi Tổng Thống Johnson trình bày vấn đề. Tuy vậy tôi cũng nói rằng tôi hiểu rõ những điều ông lo và sẽ cố hết sức chuyển lời nhắn của ông về Sài Gòn.

Trên đường quay về Tòa Đại Sứ, lúc đi xe chung với cụ Đỗ, chúng tôi lại cùng nhau bàn luận. Tôi hỏi cụ Đỗ chẳng hiểu tình hình Sài Gòn đã thật sự gay đến độ phải đặt vấn đề như Tổng Thống Johnson hay chưa, cụ Đỗ trả lời rằng theo ý cụ thì chưa. Cụ Đỗ cho biết rằng ở Sài Gòn lúc này dư luận đã đồn đãi rất nhiều về vấn đề những tướng lãnh nào sẽ ra tranh cử Tổng Thống. Có thể trong số các tướng lãnh đã có người có hành động khả nghi khiến cho Hoa Kỳ nghi rằng sẽ có đảo chánh. Cụ Đỗ cho rằng cho dù ông Thiệu và ông Kỳ có tranh chấp dữ dội đến độ nào đi nữa thì cả hai cũng đều hiểu rõ những trách nhiệm của mình. Vấn đề có đảo chánh ở Việt Nam thật khó thể xảy ra.

Nhưng những nhận định của cụ Đỗ vẫn chẳng làm tôi an tâm thêm chút nào. Tôi biết Tổng Thống Johnson chỉ mang vấn đề ra khi ông đã nhận được tin tức rõ rệt qua những cơ quan của Hoa Kỳ. Tuy thế ngoài cách nhắm mắt chuyển tin về Sài Gòn chúng tôi chẳng còn biết làm gì hơn. Chúng tôi cùng đồng ý rằng khi trở về Việt Nam, cụ Đỗ sẽ trình bày rõ ràng tất cả những điều Tổng Thống Johnson nhắn nhủ. Mặt khác, vì những liên hệ gần gũi giữa tôi và hai người lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam, tôi sẽ cố gắng gặp riêng họ để tường trình khi có dịp trở về Sài Gòn. Ít lâu sau, cụ Đỗ trở lại Sài Gòn. Hẳn nhiên là những lời tường trình của cụ đã có ảnh hưởng lập tức, vì ngay sau khi cụ trở lại tôi có nhận được một bức điện tín của Thủ Tướng Kỳ mời tôi về nước để tham khảo ý kiến. Tuy thế nhưng vì lời mời đến ngay giữa lúc tôi đang dở dang thiết lập những mối liên lạc ở Hoa Thịnh Đốn nên tôi chưa thể lập tức trở về. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng lời yêu cầu của ông Kỳ cũng không lấy gì làm khẩn thiết. Vả lại, biết đâu cứ để thời gian cho ông Kỳ và ông Thiệu suy nghĩ lại chẳng là một ý kiến hay? Trong khi đó, Tướng Westmoreland đã đến Hoa Thịnh Đốn để tường trình trước quốc hội. Tôi viện vào biến cố này để ở lại Hoa Thịnh Đốn lâu hơn. Tôi nói với Sài Gòn rằng tôi cần ở lại quan sát phản ứng của quốc hội cùng dân chúng khi tướng Westmoreland chánh thức trình bày các bản báo cáo của ông. Tôi cũng muốn xem liệu Ngũ Giác Đài sẽ phản ứng ra sao với lời yêu cầu đổ quân tăng viện mới đây của tướng Westmoreland.

Khi tôi trở lại Sài Gòn thì trời đã vào cuối tháng năm. Lúc này mọi người đã biết rõ rằng cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều đứng ra tranh cử Tổng Thống. Lúc này chỉ còn một tháng nữa là hết hạn bầu cử nên cả các chính trị gia lẫn dân chúng ở Việt Nam đều hết sức chú tâm vào cuộc bầu cử. Ngoài hai ông Thiệu, Kỳ, còn có nhiều chính khách dân sự khác tuyên bố tranh cử. Nếu cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều tranh cử, số phiếu bị chia rẽ có thể sẽ đưa phần thắng đến cho một ứng cử viên dân sự. Lúc này, mọi người quan tâm đến cuộc bầu cử đến độ gần như chẳng ai để ý đến những biến chuyển quân sự đang diễn ra ngoài chiến trường. Dường như chẳng ai buồn để ý đến những cuộc đụng độ đang diễn ra dọc theo suốt mạn biên giới miền Trung.

Hầu hết ở khắp mọi nơi, đề tài bàn tán dường như chỉ là những vấn đề mâu thuẫn của hai giới dân-quân sự. Trong số những chính khách dân sự ra tranh cử có cả cựu quốc trưởng Phan Khắc Sửu và cựu Thủ Tướng Trần Văn Hương. Bác sĩ Quát không ra tranh cử; vì là người Bắc mà lại chẳng có thế lực nào làm hậu thuẫn nên ông cảm thấy mình không có đủ cơ hội thắng cử. Tuy rằng danh tiếng của những chính khách dân sự đứng ra tranh cử vào lúc này đã bị mất đi phần nào vì những sự xích mích và thất bại của giới dân sự trong quá khứ, nhưng ảnh hưởng của họ đối với những người đi bầu chưa chắc đã hoàn toàn mất hẳn. Hơn nữa, tuy đất nước đã có được một sự sự ổn định tương đối trong hai năm qua khi hai ông Thiệu, ông Kỳ nắm quyền nhưng nhiều người vẫn cho rằng không nên bầu một vị tướng vào chức vị Tổng Thống. Và tuy giới quân nhân đang nắm quyền điều động cuộc bầu cử nhưng lúc này quân đội lại chia rẽ vì cả hai ông Thiệu, Kỳ cùng đều ra tranh cử. Tôi về Sài Gòn vào đúng giữa lúc dư luận đang sôi nổi về vấn đề bầu cử.

Vào cuối tháng 5, những nhóm ủng hộ ông Thiệu và những nhóm ủng hộ ông Kỳ đã bắt đầu đụng độ một cách gay cấn. Ngoài mặt thì uy tín của ông Thiệu vẫn kém xa ông Kỳ. Vì là một nhân vật trẻ tuổi, ông Kỳ được một nhóm tướng tá trẻ đầy năng lực ủng hộ. Nhiều người trong nhóm các tướng tá trẻ cũng là người Bắc như ông Kỳ. Hơn nữa, vì là Thủ Tướng, ông Kỳ đã nắm gọn trong tay hầu hết mọi đầu dây uy quyền. Chẳng hạn như chính ông là người điều hành tất cả các cơ quan điều hành Bộ Nội Vụ và Bộ Thông Tin, trông coi việc phát thanh, truyền hình, điều hành các guồng máy cảnh sát, Công An, các lực lượng quân đội quanh thành phố. Ông Kỳ lại còn là Tư Lệnh Không Quân đứng đầu điều động cả toàn bộ không quân.

Trái lại, lực lượng của ông Thiệu lại gần như chẳng có gì cả. Ông tỏ ra là một nhân vật đứng đắn, vô cùng tự chủ và đối nghịch gần như hoàn toàn với cá tính hay chơi trội và phát biểu ẩu tả của ông Kỳ. Vì tôi là người Bắc nên nhiều người đã cho rằng tôi đứng về phe ông Kỳ. Chính ông Kỳ lại là người đã đưa tôi vào chính phủ. Hơn nữa, tôi đã từng là phụ tá đặc biệt của ông Kỳ trong gần suốt cả hai năm vừa qua. Đối với những dư luận hành lang đang sôi sục của Sài Gòn thì tuy là đại sứ của Việt Nam, tôi chính là một người thân tín của riêng ông Kỳ. Những người đồn đãi cho rằng tôi trở về Sài Gòn lúc này không nhằm mục đích gì hơn là để cố vấn và chuyển những lời ủng hộ của Hoa Thịnh Đốn về cho ông Kỳ.

Việt Nam thật không thể tin rằng Hoa Kỳ lại đứng vào cương vị trung lập trong cuộc bầu cử Tổng Thống lúc này. Họ nghĩ rằng Hoa Kỳ chắc chắn đang nỗ lực vận động ngấm ngầm sau hậu trường để ủng hộ cho ứng cử viên của riêng họ (Lại có “Bàn Tay Lông Lá của CIA” nhúng vào vụ này). Sự hiện diện của tôi ở Sài Gòn đã cho thấy rõ rệt ứng cử viên nào được Hoa Kỳ ủng hộ.

Riêng tôi vẫn cố giữ những ý nghĩ cá nhân cho riêng chính mình. Việc tôi quả thật một phần nào có hy vọng ông Kỳ thắng cử tuy đúng nhưng hoàn toàn là do những lý do khác hẳn những lý do mà dư luận đã buộc cho tôi. Vì đã có thời gian cộng tác gần gũi với ông Kỳ trong những hoạt động chính quyền, tôi tin rằng ông Kỳ là người chịu nghe lời thuyết phục. Ông Kỳ vốn là một nhân vật trẻ, háo động, dễ mến và ít kinh nghiệm về những hoạt động của chính phủ trên nhiều phương diện, nhưng ông cũng học hỏi rất nhanh và chịu khó nghe những ý kiến mới. Hơn nữa ông lại có cá tính can trường; ông có vẻ có tư phong của một người hùng. Thành ngữ ta có câu: “Điếc không sợ súng.” Về một phương diện nào đó thì có lẽ ông Kỳ quả là “người điếc không sợ súng”. Ông có thể chấp nhận thử thách mà không cần suy nghĩ nhiều về những hậu quả của sự thất bại. Chính ông Kỳ đã chấp nhận những quan niệm Hiến Pháp và cải cách xã hội trong những bài diễn văn đọc ở cuộc họp Thượng Đỉnh tại Honolulu, trong khi ông Thiệu lại là người luôn luôn trì hoãn đòi sửa đổi hết khoản này đến khoản khác.

Trong hai người thì ông Thiệu là người khó đối phó hơn. Ông Thiệu là người đa nghi và hay ngấm ngầm tính toán. Rất ít người có thể tin tưởng hoặc cộng tác gần gũi với ông Thiệu. Nếu đại sứ Bunker và tướng Westmoreland cho rằng những cá tính của ông Thiệu là những cá tính của một người tự chủ và biết suy xét thì tôi lại cho rằng những cá tính đó là những nhược điểm vì thiếu quyết đoán và do dự. Ông Thiệu có thể gật đầu khi trong bụng ông nghĩ trái lại. Tuy là người vô cùng kiên nhẫn và chịu khó, ông Thiệu không phải là một người có tầm mắt rộng lớn, có thể vượt được lên trên những mưu mô của một người làm chính trị tầm thường để trở thành một nhân vật cái thế. Bẩm chất của ông là thận trọng. Lúc nào ông cũng tìm hiểu mọi khía cạnh của vấn đề. Lúc nào ông cũng lý luận với đầy đủ mọi chiều hướng và lúc nào ông cũng tránh né để khỏi phải giải quyết trực tiếp các vấn đề.

Đã đành rằng ông Kỳ có tật phát biểu không thận trọng và hay hành động thất thường nhưng những lý do khiến tôi mong mỏi ông Kỳ thắng cuộc phần nhiều là do những nhận định kể trên. Tuy thế, ngoài mặt tôi vẫn hoàn toàn im lặng, đồng ý để mọi người bàn ra tán vào tất cả những điều họ để tâm suy nghĩ. Khi về Sài Gòn, tôi tường thuật lại với ông Kỳ về cuộc nói chuyện với Tổng Thống Johnson và về tình hình ở Hoa Thịnh Đốn nói chung. Một trong những điều tôi đề cập là vấn đề khuynh hướng ủng hộ của người dân Hoa Kỳ đã bắt đầu đi xuống. Tôi tường thuật lại những cuộc biểu tình, những cuộc trưng cầu dân ý và những chống đối của các sinh viên đại học ở Hoa Kỳ và những cuộc thăm dò của tôi với các nhân viên ngoại giao. Tôi cũng trình bày thật rõ rằng Hoa Thịnh Đốn đang lo những biến chuyển tranh cử ở Việt Nam có thể đưa đến những diễn biến bất lợi khiến quân đội Việt Nam chia rẽ và trở thành hai nhóm thù nghịch.

Tối đó ông Kỳ dẫn tôi đến Bộ Tư Lệnh không lực ở Biên Hòa để cùng dùng bữa tối với những nhân vật uy tín đang ủng hộ ông. Những nhân vật ở Bộ Tư Lệnh của ông Kỳ hôm đó bao gồm: Tướng Nguyễn Đức Thắng, Bộ Trưởng đặc trách chương trình Xây Dựng Nông Thôn; Tướng Nguyễn Bảo Trị, Bộ Trưởng Thông Tin; và tướng Lê Nguyên Khang, Tổng Tư Lệnh vùng thủ đô Sài Gòn. Tôi đã biết ông Kỳ nhất quyết đứng ra tranh cử và đối với ông và những người ủng hộ ông thì vấn đề chính chỉ là làm sao cho ông Thiệu phải bỏ cuộc.

Tôi cũng biết rằng sau nhiều cuộc tranh luận dằng co giữa hai phe, vài ngày trước đây tướng Thắng đã được chỉ định đứng ra làm áp lực khiến ông Thiệu phải tự mình bỏ cuộc. Tướng Thắng được chỉ định làm đại diện vì ông là một trong những người được Hoa Kỳ ủng hộ. Hơn nữa, hai ông Lansdale và Bob Komer, lại là đồng nghiệp của ông trong chương trình xây dựng nông thôn. Lời tướng Thắng do đó sẽ có tiếng vang hơn cả. Đã vậy, tướng Thắng lại còn có khả năng đặt vấn đề một cách ngắn gọn và trực tiếp.

Bởi vậy tướng Thắng đến gặp ông Thiệu và lạnh lùng nói thẳng với ông Thiệu rằng ngoài cách rút lui, ông Thiệu quả không còn cách nào khác để chọn lựa. Dĩ nhiên đây là một cuộc đụng độ gay cấn. Nhưng rút cục thì bất chấp những lời lẽ cộc lốc, rõ rệt của tướng Thắng, ông Thiệu đã trả lời rằng ông nhất định không chịu rút lui. Kể từ lúc đó, cục diện đã thay đổi rõ ràng thành hai phe và chẳng ai trong nhóm ông Kỳ biết phải hành động thế nào với phe đối nghịch. Đây là lý do chính khiến họ phải tham khảo ý kiến của tôi. Họ không trực tiếp nhờ tôi làm sứ giả giảng hòa, nhưng đứng trên cương vị của một đại sứ vừa từ Hoa Thịnh Đốn trở về, việc đã rõ ràng là dù sao đi nữa thì tôi cũng phải tới nói chuyện với ông Thiệu. Biết đâu tôi lại thuyết phục được ông trong cuộc nói chuyện cũng không chừng.

Ngày 25 tháng 5-1966, chỉ mới vài ngày sau đó, tôi đến gặp ông Thiệu nơi bàn giấy của ông ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc này, ông Thiệu đang làm việc ở một văn phòng riêng nhỏ nhoi trông thật đơn độc. Đa số đồng nghiệp của ông đã về phe với ông Kỳ. Tôi báo cáo lại với ông Thiệu hệt như đã báo cáo với ông Kỳ trước đây. Tôi thuật lại cuộc nói chuyện giữa tôi và Tổng Thống Johnson và đưa ra nhận định của tôi về quan niệm của Hoa Thịnh Đốn, nhất là quan niệm sau khi Tướng Westmoreland đã báo cáo với quốc hội Hoa Kỳ vào cuối tháng 4. Chắc chắn ông Thiệu biết rõ thế nào tôi cũng đề cập đến những vấn đề khác nữa nên khi tôi vừa mới tường trình chung chung mọi việc xong thì ông đã bắt đầu nói về việc tranh cử.

Ông Thiệu nói rằng ông đã suy nghĩ kỹ càng mọi việc và đã tham khảo ý kiến của tất cả bạn bè. Ông đã quyết định đứng ra tranh cử và nhất định không chịu từ bỏ ý định. Ông Thiệu nói rằng đã đành tranh cử là vấn đề cam go, nhưng ông là người yêu nước và ông có quyền đứng ra tranh cử cũng như bao nhiêu người yêu nước khác. Ông nhất quyết không từ bỏ quyền tranh cử. Ông Thiệu nói rằng dù chỉ có hai phiếu bầu cho ông là của ông và bà Thiệu đi chăng nữa ông cũng vẫn đứng ra tranh cử. Ông đã quyết không thay đổi ý kiến.

Khi việc đã rõ ràng rằng chẳng có gì để nói thêm, tôi đứng dậy kiếu từ. Ông Thiệu bắt tay và ngỏ lời cám ơn tôi đã đến thăm ông. Ông nói thêm: “Ít nhất anh cũng không phải như hai thằng Thắng, thằng Trị.” Đây là lời bình luận không mấy dấu diếm của ông Thiệu đối với những người ủng hộ ông Kỳ.

Sau khi đã thấy rõ cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều đứng ra tranh cử, tôi nán lại Sài Gòn thêm vài ngày, cố liên lạc với những đoàn thể chính trị khác để lượng định ảnh hưởng của toàn cuộc tranh cử. Tình hình chính trị ở Sài Gòn lúc này thật là hỗn loạn. Đây chỉ là mới nói một cách nhẹ nhàng. Ngoài hai viên tướng, còn có cả thảy 7 ứng cử viên dân sự. Những ứng cử viên dân sự lúc này cực kỳ phấn khởi vì những xích mích của các ứng cử viên quân nhân. Họ đang cố hết sức ngồi lại với nhau để làm tăng thêm uy tín. Đã có cả ứng cử viên ra tranh cử với lá phiếu hòa bình, ông Trương Đình Dzu vận động với những chủ trương mơ hồ rằng nếu thắng cử ông sẽ điều đình với Việt Cộng để xây dựng hòa bình. Ông Dzu nguyên là một nhân vật bướng bỉnh, một tay chạy chọt và là một tay buôn có tầm ảnh hưởng rộng chưa hề đứng ra tranh cử cho bất cứ chức vụ gì trước đây. Tuy không phải là một chính khách chuyên nghiệp, ông Dzu chính là một nhân vật thời cơ đã nhìn thấy một số phiếu hòa bình đang chờ đợi ông hay những ứng cử viên cổ võ hòa bình khác.

Lúc này ông Kỳ đã vận động đẩy mạnh những hoạt động tranh cử sơ khởi. (Mãi đến tận tháng 7 cuộc bầu cử chánh thức mới thực sự bắt đầu). Những chiến dịch vận động của ông Kỳ là do ông Nguyễn Ngọc Loan, Tổng giám đốc cảnh sát đứng ra điều hành. Ở bất cứ nơi nào cũng có khẩu hiệu của ông Kỳ sơn trên khắp các bức tường: “Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ là chánh phủ của người nghèo.” Ông Thiệu, trái lại, vẫn âm thầm xa rời, luôn luôn đi cùng những cố vấn riêng. Hình như ông Thiệu đang ra công đợi chờ ông Kỳ phạm phải một lỗi lầm nặng nề nào đó bằng những hành động thiếu suy nghĩ cách này hay cách khác.

Khi đã nhìn thấy rõ tình hình tranh chấp trong giới quân sự, tôi bắt đầu đi gặp thêm các chính trị gia khác. Một trong những ý kiến tôi được nghe khi đến gặp các chính trị gia trong chánh giới Sài Gòn là một liên danh của hai ông Thiệu, Kỳ sẽ là con đường chắc chắn dẫn đến một chánh phủ vững vàng. Bởi thế trước khi lên đường trở về Hoa Thịnh Đốn tôi có đến gặp lại ông Kỳ và hỏi thẳng thừng rằng liệu ông Kỳ có thể đứng chung một liên danh với ông Thiệu hay không? Ông Kỳ trả lời rằng không, chắc chắn chuyện vận động chung cùng với ông Thiệu là chuyện không bao giờ có thể xảy ra. Ông Kỳ cũng nhờ tôi nhắn với chánh phủ Hoa Kỳ là ông bảo đảm sẽ không có bất kỳ chuyện xáo trộn nào xảy ra và cuộc thay đổi từ chính quyền này sang chính quyền khác ở Việt Nam sẽ hoàn toàn êm đẹp.

Tôi trở về Hoa Thịnh Đốn, lòng tin tưởng vào lời hứa thành thật của ông Kỳ. Ông Kỳ đã hứa sẽ cố hết sức giữ đúng cả thể thức bầu cử lẫn sự đoàn kết trong quân đội. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa hoàn toàn chắc liệu ông có còn giữ được những ý định này khi phải thực sự đối phó với ông Thiệu vào ba tháng sắp tới hay không? Kết cục tôi chỉ biết chuyển lời hứa của ông Kỳ đến Bộ Ngoại Giao và Tòa Bạch Ốc. Một khi Hoa Kỳ đã nhận được lời nhắn của ông Kỳ thì có lẽ cả Tổng Thống Johnson lẫn Ngoại Trưởng Dean Rusk đều rất hài lòng, nhưng nếu nhìn vào những gì mới xảy ra ở Sài Gòn vào những thời gian gần nhất, tôi biết rằng lời hứa của ông Kỳ chưa chắc đã bảo đảm được tình trạng ổn định của Sài Gòn trong giai đoạn sắp tới. Vì vậy, lúc này tôi chỉ còn biết hy vọng hoặc nói đúng hơn là chỉ còn biết nguyện cầu cho mọi việc được hoàn toàn êm đẹp. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"