Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

22 – Hiến Pháp Dân Chủ 


Chương 22
Hiến Pháp Dân Chủ

Ở Sài Gòn lúc này bản Hiến Pháp đã được soạn thảo xong. Đây là bản Hiến Pháp đầu tiên, đánh dấu những nỗ lực dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc Hội Lập Hiến đã bỏ ra rất nhiều thời giờ soạn thảo bản hiến pháp. Nếu nhìn vào cả phạm vi lai lịch lớn rộng của các thành phần trong ban soạn thảo lẫn thời gian họ cùng nhau thảo luận trước khi đưa ra bản dự thảo hiến pháp thì có lẽ ai cũng có thể thấy rằng bản dự thảo của quốc hội lập hiến lúc đó là quả là một công trình đáng kể. Bản dự thảo Hiến Pháp đề nghị một chánh phủ bao gồm ba cơ quan chính là Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp. Cơ quan Lập Pháp gồm hai viện là Thượng Viện và Hạ Viện. Cơ quan Hành Pháp gồm Tổng Thống, Phó Tổng Thống và Thủ Tướng. Nhìn vào quá trình chính trị của Việt Nam suốt trong khoảng hai thập niên 1950-1960 thì quả thật nét nổi bật nhất là đảo chánh và xáo trộn. Hết chế độ độc tài này cho đến chế độ độc tài khác thay phiên nhau đưa ra những chính sách chẳng có căn bản gì nhất định. Hết ông Diệm lật đổ Bảo Đại lại đến các tướng tá đảo chánh ông Diệm. Sau đó chính các tướng tá đảo chánh lại bị chỉnh lý để mở đường cho một chính phủ dân sự đầu tiên chỉ nắm quyền được trong vòng năm tháng. Cuối cùng thì chính phủ của Miền Nam Việt Nam lại được những người quân nhân đứng ra lãnh đạo. Bản Hiến Pháp lúc này có lẽ phản ảnh rõ hơn bao giờ hết sự quan tâm của những người soạn thảo Hiến Pháp đối với tình trạng xáo trộn của Việt Nam trong quá khứ. Guồng máy chính phủ do bản Hiến Pháp đề ra cho thấy những người soạn thảo Hiến Pháp đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề cần phải tìm cách để ngăn ngừa những trường hợp độc tài. Hiến Pháp đề nghị một guồng máy chính phủ bao gồm Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng và cơ quan Lập Pháp. Vào lúc này thì câu hỏi chính là: Liệu những người trong chánh phủ quân nhân có đồng ý hay không? Đây có lẽ là lý do họ triệu tôi về để tham khảo ý kiến. Họ muốn biết rõ Hoa Kỳ suy nghĩ ra sao về vấn đề Hiến Pháp của Việt Nam.

Thật ra đây là một câu hỏi tôi có thể trả lời ngay. Việc Hoa Kỳ quan niệm ra sao đối với vấn đề thành lập một chánh phủ hợp hiến là một việc tôi đã rõ từ lâu. Quan niệm này mọi người cũng đã thấy rõ ở hội nghị Honolulu. Tuy thế, trước giờ khởi hành để về lại Việt Nam, tôi vẫn đến gặp ông Walt Rostow để duyệt lại tình hình tổng quát ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Ông Rostow khẳng định rằng chính phủ Hoa Kỳ chắc chắn đã đồng ý chấp thuận bản dự thảo Hiến Pháp và vấn đề công bố bản Hiến Pháp quả là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với tổng thống Johnson. Ông Rostow cho rằng tổng thống Johnson mong Việt Nam chấp thuận bản hiến pháp vì hai lý do. Thứ nhất, đây là một hành động để chứng tỏ rằng những quân nhân lãnh đạo Việt Nam là những người biết trọng lời hứa. Thứ hai là ông có thể dùng thành quả này để thuyết phục dân chúng Hoa Kỳ rằng việc Hoa Kỳ can thiệp là hoàn toàn xác đáng.

Kể từ năm 1967, Hoa Kỳ đã bắt đầu giảm dần những sự ủng hộ của họ đối với Việt Nam. Nguyên do của vấn đề giảm thiểu là vì nỗ lực can thiệp của họ chẳng mang lại thành quả nào cụ thể. Lúc này, tuy đã có khoảng 400,000 binh sĩ Hoa Kỳ đóng ở Việt Nam mà vẫn chưa ai nhìn thấy sự thành công nào rõ rệt. Vì thiếu những thành quả trên lãnh vực quân sự nên Hoa Kỳ thấy cần phải có những tiến triển trên lãnh vực chính trị. Những tiến triển này có thể cho phép chánh phủ Hoa Kỳ tuyên bố rằng: “Tuy chúng tôi vẫn chưa thể khẳng định được những thành công về mặt quân sự nhưng vẫn có những tiến triển khả quan trên những phương diện khác.”

Nếu muốn có những thành quả chính trị ở Việt Nam thì dĩ nhiên Hoa Kỳ phải đẩy mạnh việc chấp thuận hiến pháp. Trước khi tôi lên đường, ông Robert Komer cũng tiết lộ rằng chính vấn đề này đã khiến chánh phủ Hoa Thịnh Đốn đang dự định một cuộc họp thượng đỉnh khác. Lần này thì cuộc họp được dự trù ở Guam, một hòn đảo ở Thái Bình Dương.

Tôi trở lại Sài Gòn vào ngày 6 tháng 3-1967, khi thành phố đang trong bầu không khí lạc quan. Lý do chính của sự lạc quan là do hai yếu tố: Thứ nhất: Bất kể cuộc chiến nghiêng ngửa ra sao thì mọi người vẫn có cảm tưởng là cuộc chiến vẫn còn ở xa. Thứ Hai: Việt Nam vẫn được một đồng minh vĩ đại đấu lưng giúp sức. Tình trạng này khiến Bắc Việt không thể nào đoạt được thắng lợi. Nhưng niềm lạc quan của Sài Gòn một phần khác cũng còn là vì bản Hiến Pháp lúc này đã được hoàn tất. Đây là một công việc đã chiếm lĩnh phần lớn tâm trí của nhiều đoàn thể chính trị trong suốt nửa năm trời.

Nhưng lúc này, ở Hoa Thịnh Đốn những người đang chỉ trích chiến cuộc lại gạt bỏ tất cả những tiến triển dân chủ ở Sài Gòn sau cuộc bầu cử. Đối với họ thì những phong trào dân chủ chẳng hạn như -Bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, soạn thảo hiến pháp mới và những cuộc bầu cử sau khi có hiến pháp chẳng qua chỉ là những bức họa trang trí mà Hoa Kỳ đang nóng lòng đắp điếm để cố giúp Việt Nam thể hiện phần nào bộ mặt dân chủ. Thật sự thì chánh quyền Johnson quả có lợi dụng những nỗ lực ở Việt Nam để thuyết phục dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ cho những chánh sách của họ, nhưng chính người dân Việt Nam cũng có chủ trương hẳn hoi về vấn đề dân chủ. Đây là việc khó thể chối cãi.

Sau 100 năm chung đụng với người Pháp, người dân Việt đã bị ảnh hưởng rất nhiều. Một mặt thì họ bị tiêm nhiễm những ảnh hưởng xấu của người Pháp, chẳng hạn như về vấn đề bè phái, nhưng mặt khác họ cũng thấm nhuần được những ảnh hưởng có lợi cho vấn đề áp dụng dân chủ. Một trong những ảnh hưởng đáng kể là chính trị đã nhiễm vào tập quán của người dân Việt và nếu môi trường cho phép thì chắc chắn quan niệm dân chủ sẽ có dịp phát triển ở Việt Nam. Nếu chỉ nói riêng về khả năng tiếp nhận những quan niệm dân chủ thì người dân Việt quả hoàn toàn không khác gì những dân tộc khác. Khi đã có cơ hội để tìm hiểu và áp dụng những quan niệm dân chủ, người dân Việt Nam sẽ học hỏi vô cùng nhanh chóng. Hơn nữa, một khi tiến trình dân chủ đã bắt đầu thì đà cải tiến thường tự phát xuất mỗi ngày một nhanh.

Kết quả là ở Sài Gòn chẳng ai là người không tranh luận về vấn đề hiến pháp. Những đoàn thể chính trị đã bàn cãi sôi nổi, nhưng các giới lãnh đạo quân nhân lại còn bàn cãi sôi nổi hơn vì lúc này quyền quyết định chấp thuận hay không là ở trong tay họ. Đây là lúc các tướng lãnh sẽ phải chấp nhận hoặc bác bỏ thể thức dân chủ ngay trước dư luận trong nước và ngoài nước.

Dĩ nhiên các tướng lãnh không lấy gì làm vui vẻ chấp nhận bản hiến pháp mới này, nhất là những vị tư lệnh vùng chiếm đóng ở 4 quân khu. Họ sẽ bị mất mát rất nhiều quyền lợi. Nếu chính phủ Việt Nam là một chính phủ dân chủ thì những tư lệnh vùng sẽ phải phụ thuộc vào những người lãnh đạo chính trị. Hơn nữa, đối với những người sắp được bầu ra, họ hoàn toàn không có chút gì ảnh hưởng. Đây là vấn đề chính mà họ quan tâm. Những tư lệnh vùng lý luận rằng họ là những người đang điều động chiến cuộc và họ chẳng thể hao tổn thời giờ để đối phó với những sự rối ren, bất trắc của một chính phủ hợp hiến. Họ hoàn toàn không tin vào việc thành lập một chánh phủ dân sự.

Vừa đặt chân về tới Sài Gòn tôi đã bị lôi cuốn vào những cuộc tranh luận sôi nổi trong cả hai giới quân sự lẫn dân sự. Bất kỳ nơi nào tôi đến, câu hỏi đầu tiên vẫn là: “Người Hoa Kỳ phản ứng ra sao về vụ này?” Lúc nào tôi cũng trả lời: “Đương nhiên Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ việc chấp thuận bản hiến pháp, nhưng đối với tôi đây không phải là vấn đề quan trọng. Vấn đề quan trọng chính là chúng ta phải tự hỏi xem liệu hiến pháp có cho chúng ta thêm phần sức mạnh nào trong công cuộc tranh đấu chống cộng hay không?” Câu trả lời mạnh dạn của tôi là: “Có.”

Tôi dùng hết cả thì giờ vào việc góp ý kiến với các ông Thiệu, ông Kỳ và các vị tướng lãnh khác. Tôi nói với họ rằng chúng ta phải hành động đi đôi với lời đã hứa trước kia ở Honolulu. Không có lý do gì có thể khiến chúng ta hành động trái nghịch lại với lời nói của chính mình. Hơn nữa, chúng ta phải tiến hành mọi việc cho kỹ càng, minh bạch càng sớm càng tốt.

Khi nói chuyện với ông Thiệu và ông Kỳ tôi thấy dường như mình đang đẩy vào một cánh cửa đã hé. Mặc dù ông Thiệu và ông Kỳ chưa quyết tâm đồng ý, tôi cho rằng họ đã ngấm ngầm chấp nhận ý kiến hiến pháp và bầu cử. Trước hết họ hiểu được tư thế của Hoa Kỳ. Họ cũng hiểu được tầm quan trọng của những lời họ phát biểu trước đây. Thứ hai là họ còn biết rằng Hiến Pháp vẫn không tước đoạt quyền lãnh đạo của họ. Nhất là khi chính họ sẽ giữ thế thượng phong trong việc điều hành các cuộc bầu cử tổng thống. Vì vậy, vấn đề đối với họ hoàn toàn khác hẳn đối với những vị tướng lãnh khác. Chẳng có gì đáng chống đối và hơn nữa lại có rất nhiều lý do chính đáng để họ được thêm uy tín khi tiến đến một chánh thể dân chủ. Theo cách nhìn của tôi thì rõ ràng tất cả mọi yếu tố đều là những yếu tố khả quan. Nếu ông Thiệu và ông Kỳ càng có nhiều lý do riêng để chấp thuận Hiến Pháp bao nhiêu thì việc chấp thuận lại có triển vọng càng nhiều bấy nhiêu. Vấn đề chính là làm thế nào để phát động mọi việc.

Cuối cùng, vào ngày 10 tháng 3-1967, ông Thiệu và ông Kỳ đã triệu tập một buổi họp chánh thức ở dinh độc lập. Cuộc họp bao gồm tất cả Bộ Trưởng và các Tư Lệnh quan trọng trong giới lãnh đạo quân sự. Sau khi đã tranh luận kỹ lưỡng và đề cập tất cả mọi khía cạnh cũng như chi tiết của vấn đề Hiến Pháp, ông Thiệu thúc dục tôi bày tỏ ý kiến. Khi giới thiệu tôi, ông Thiệu có ý thầm nhắc rằng những điều tôi sắp trình bày sẽ là ý kiến của Hoa Kỳ. Ông giới thiệu tôi là: “Một nhân vật của Hoa Thịnh Đốn.”

Tôi trình bày ý kiến của tôi một cách ngắn gọn và nhắc lại rằng tôi đã ủng hộ việc soạn thảo bản hiến pháp kể từ lúc đầu. Sau đó tôi nói thêm: “Những kinh nghiệm trên chính trường quốc tế đã cho tôi thấy chánh quyền Việt Nam phải tỏ rõ quyết tâm tiến tới một chánh thể dân chủ hợp hiến. Hơn nữa, nếu không chấp thuận bản hiến pháp thì cũng chẳng còn giải pháp nào khác hơn.” Khi tôi dứt lời, cuộc bỏ phiếu bắt đầu. Tất cả đều đồng lòng chấp thuận bản hiến pháp. Vài ngày sau, khi hiến pháp đã được công bố, thì ông Bill Bundy đến Sài Gòn và thông báo rằng Tổng Thống Johnson đã dự định một cuộc họp Thượng Đỉnh vào ngày 20 tháng 3-1967 ở Guam. Vì đã quen với những thủ tục tổ chức qua hai cuộc họp thượng đỉnh ở Manila và Honolulu lúc trước, tôi lại được đề cử sắp xếp mọi việc lần này. Nhờ đã có chút kinh nghiệm nên công việc sắp xếp lần này không còn hấp tấp và bỡ ngỡ như những lần trước. Tuy vậy, công cuộc sắp xếp lại gặp rắc rối vì một biến chuyển bất ngờ ở Liên Hiệp Quốc vào ngày 14 tháng 3-1967.

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant là một người phản chiến. Ông ít có kinh nghiệm về những đòn phép của Bắc Việt và tin tưởng thật thơ ngây rằng Hà Nội sẽ vui lòng đàm phán Hòa Bình. Trước đây ông đã gặp các đại biểu của Hà Nội và sau khi cùng họ thảo luận các vấn đề đàm phán hòa bình, ông Thant có gửi một bản văn thư đến cho ông Arthur Goldberg, đại sứ Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc. Trong bản văn thư đó, ông Thant chánh thức đề nghị việc đàm phán đình chiến và tạo dựng hòa bình giữa hai quốc gia Hoa Kỳ và Bắc Việt.

Nói chung thì Hoa Kỳ vẫn xem thường ông U Thant và có vẻ nghi ngờ các đề nghị đàm phán của ông, nhưng với bản tính nghi kỵ cố hữu của người Việt Nam thì sự trùng hợp ngẫu nhiên về thời điểm mà ông U Thant đưa ra các đề nghị và thời điểm của cuộc họp thượng đỉnh ở Guam đúng là do Hoa Kỳ ngấm ngầm xếp đặt. Tại Việt Nam, tin đồn bắt đầu vang động rằng cuộc họp thượng đỉnh đã được dàn xếp để đẩy phần lợi về phía Hoa Kỳ và ép buộc Việt Nam vào thế yếu trong chiến cuộc. Hậu quả là chúng tôi đã phải bỏ ra rất nhiều thời giờ để trả lời ông U Thant và làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm để đánh tan dư luận.

Cuộc họp thượng đỉnh ở Guam lần này là lần hội kiến thứ ba của Hoa Kỳ và các lãnh tụ MNVN. Lần này cả hai phái đoàn đều cố gắng đi thẳng vào vấn đề. Tổng Thống Johnson vẫn đi cùng những nhân vật quan trọng như Ngoại Trưởng Rusk, Bộ Trưởng McNamara, ông Walt Rostow và những tư lệnh quân sự tối cao khác. Ông Thiệu, ông Kỳ cũng cùng đi với các Bộ Trưởng cao cấp của Việt Nam.

Cuộc họp tiến hành vào ngày thứ hai, 20 tháng 3-1967. Ngoài việc duyệt lại tổng quát tình hình chiến sự, chương trình nghị sự còn bao gồm cả ba vấn đề chính: Những đề nghị đàm phán hòa bình của Tổng Thư Ký U Thant, những tiến triển chính trị ở Việt Nam và những nỗ lực đàm phán hòa bình. Tuy thế, khi mọi người vừa an vị thì Tổng Thống Johnson lại đưa thêm một vấn đề nữa vào chương trình nghị sự. Ông giới thiệu hai nhân vật mới của Hoa Kỳ là ông Ellsworth Bunker và ông Robert Komer. Ông Ellsworth Bunker sẽ là đại sứ ở Việt Nam thay thế đại sứ Henry Cabot Lodge và ông Robert Komer sẽ đến Việt Nam để điều hành chương trình xây dựng nông thôn trên cả hai lãnh vực quân và dân sự.

Chúng tôi đã biết về việc đề cử từ trước nhưng gần như tất cả phái đoàn Việt Nam đều tò mò về ông đại sứ mới. Đây chỉ là nói một cách nhẹ nhất. Ở thời điểm này cương vị đại sứ chẳng những đã ảnh hưởng các thể thức điều động chiến cuộc mà còn ảnh hưởng cả đến tình hình nội bộ của Việt Nam nữa. Những tháng kế tiếp sẽ là những giai đoạn chính trị tối quan trọng của Việt Nam vì cuộc bầu cử tổng thống Việt Nam đã được dự định vào mùa thu năm đó. Giữa lúc này bỗng nhiên một nhân vật hoàn toàn mới lạ lại bước vào chính trường Việt Nam.

Ông Ellsworth Bunker ngồi im tại bàn, không hề phát biểu gì nhiều. Khổ người ông dong dỏng cao và tuy đã nhiều tuổi mà trông ông vẫn có vẻ quắc thước và rõ ràng đầy ắp nghị lực. Ông vươn cổ về phía chúng tôi như thể muốn thu gọn tất cả các khuôn mặt Việt Nam vào một cái nhìn. Phong thái nghiêm trang của ông khiến người đối diện phải có đôi phần dè dặt. Chỉ ít lâu những người Việt Nam đã gọi ông là “Ông Già Tủ Lạnh.” Lúc đó, chẳng một ai trong chúng tôi lại có thể ngờ rằng ông Bunker lại chính là một người bạn hết sức thành thực của Việt Nam về sau này.

Khi phần giới thiệu đã qua, hai phái đoàn bắt đầu chính thức thảo luận theo chương trình nghị sự. TT Johnson vẫn chủ tọa cuộc họp như thường lệ. Phong cách của ông thật linh hoạt. Nếu quả thật ông không còn tin tưởng hoàn toàn vào các nỗ lực can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam thì trong buổi họp hôm đó vẫn chưa ai nhận thấy có bất kỳ cử chỉ nào đáng ngờ. Ông quay về hướng các cố vấn và phụ tá vây quanh, đưa ra những câu hỏi, hỏi sâu thêm vào chi tiết và ra lệnh trong vẻ vững vàng của một vị nguyên thủ hoàn toàn tự chủ. Tuy lần này ông không còn dùng những câu thành ngữ khó hiểu như lần họp trước, TT Johnson vẫn đòi hỏi những thành quả cụ thể và cấp tốc.

Chỉ có một người duy nhất dường như không bị những cách trình bày cả quyết của Tổng Thống Johnson ảnh hưởng tí nào là Bộ Trưởng McNamara. Ông im lặng một cách vô cùng lạ kỳ và quên cả ghi chép vào những tờ giấy ghi chú màu vàng nho nhỏ như thường lệ. Thái độ trầm tư của ông thật là khó hiểu. Thực sự thì lúc đó tôi cũng không để ý nhiều đến thái độ trầm tư của ông. Mãi về sau này chúng tôi mới biết vị Bộ Trưởng Quốc Phòng đã nghi ngờ những nỗ lực can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Ở Guam, cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều có vẻ tự tin và hòa nhập dễ dàng với những người lãnh đạo Hoa Kỳ hơn bất kỳ lúc nào trước đây. Họ đã nắm quyền trong suốt hai năm trời và ở một mức độ nào đó đã trưởng thành trong khi làm việc. Hơn nữa, chỗ đứng của họ lại vững vàng hơn trước. Dĩ nhiên là vững vàng hơn nhiều so với lúc còn ở Honolulu, khi họ vẫn còn đang phải nỗ lực để tự tạo uy tín riêng. Hiện giờ, mới chỉ hơn một năm sau, họ đã có thể tuyên bố rằng mình đã chu tất lời hứa khi công bố hiến pháp và dàn xếp sửa soạn cho cuộc bầu cử toàn quốc. Đây là một giây phút hãnh diện cho họ nói riêng và cho toàn thể Việt Nam nói chung.

TT Johnson đón nhận những thành quả của Việt Nam thật nồng nhiệt. Ông có vẻ vẫn chú tâm vào cả hai phương diện: Về yếu tố nhân sự cũng như về chính trị toàn cầu. Ông thật khác với những người như Ngoại Trưởng Rusk, Bộ Trưởng McNamara. Những người này chỉ chú tâm đến những sách lược toàn cầu hơn là về bất cứ điều gì khác. Theo tôi thấy thì có lẽ trong thâm tâm tổng thống Johnson, những vấn đề có liên quan đến yếu tố nhân sự vẫn chiếm lĩnh phần lớn. Ở Honolulu ông đã tiếp xúc với ông Thiệu và ông Kỳ mặt đối mặt và kết cục đã quyết tâm giúp đỡ người Việt.

Cá tính này bộc lộ rõ rệt ở cuộc họp thượng đỉnh ở Guam khi quan hệ giữa ông và hai ông Thiệu, Kỳ ngày càng tiến triển. Cả chính cá nhân tôi cũng đã có lần được tổng thống Johnson chú tâm. Một lần, trong khi đang dùng bữa trưa, ông đã hỏi tôi có liên hệ gì với đặc sứ Bùi Viện, một đặc sứ được vua Tự Đức gửi sang Hoa Kỳ vào thời gian Tổng Thống Ulysses S. Grant hay không. Đầu tiên tôi không nhận rõ được là ông Johnson đang nói về ai nhưng sau ba bốn lần lập lại, tôi đã trả lời rằng giữa tôi và đặc sứ Bùi Viện thật chẳng có liên hệ gì cả. Đặc sứ Bùi Viện được Tổng Thống Ulysses S. Grant tiếp đón nhưng không được ủng hộ. Tôi cũng nói thêm rằng tôi là chắt nội của đặc sứ Bùi Dỵ, còn có tên là Bùi Ân Niên, cũng là đặc sứ cùng thời với đặc sứ Bùi Viện nhưng lại được cử làm đặc sứ sang Trung Hoa vào thời đó. Tổng thống Johnson có vẻ thất vọng nhưng cũng đề cập ngay trong buổi họp rằng chắc chắn tôi sẽ được nhiều may mắn hơn vị đặc sứ khi trước.

Điều làm tôi chú ý là việc Tổng Thống Johnson đã bỏ thời giờ cho lệnh các nhân viên thuộc cấp xem xét lai lịch của cả đến những nhân viên phụ tá của ông Thiệu và ông Kỳ để thiết lập những mối liên hệ cá nhân. Đây là cá tính nổi bật của Tổng Thống Johnson. Khi bàn luận với ông, tôi biết rằng mình đang bàn luận với một người nhìn vấn đề đặt trên quan niệm nhân sự. Bất kể ông thành bại ra sao, lúc nào tổng thống Johnson cũng quan niệm thất bại dựa trên phương diện nhân sự. Dù cho tầm mức cần thiết của quyết định thực sự quan trọng đến mức nào, ông vẫn bị ám ảnh nếu những quyết định này đưa đến hậu quả đau khổ cho người khác. Khi đã hiểu rõ cá tính của Tổng Thống Johnson, tôi cảm thấy có cảm tình với ông. Ngay cả sau khi ông đã rời Tòa Bạch Ốc, tôi vẫn giữ mối giao hảo với ông.

Trong suốt cuộc họp, chỉ có một tin xấu làm lệch lạc các chính sách xây dựng nông thôn là vấn đề khó khăn trong nỗ lực kiểm soát miền quê và kêu gọi nông dân hợp tác với chính phủ. Tại những vùng ở miền Trung, phẫn uất đối với chánh quyền Sài Gòn vẫn còn nhiều. Vì thế Việt Cộng đã tìm được cơ hội lợi dụng ở rất nhiều nơi. Tại những miền này và vài nơi khác Cộng Sản đã cố mở rộng ảnh hưởng và cố nắm phần chủ động, mặc dù mỗi lần chạm mặt, Việt Cộng vẫn bị đập tan không còn manh giáp.

Những tiến triển về xây dựng nông thôn không được khả quan cho lắm vì một phần lỗi lầm dẫn đến tình trạng này là do những hành động sai lầm của quân đội MNVN. Tuy quân số của quân đội Việt Nam đã tăng cường rất nhiều vào năm trước đây, việc huấn luyện những tân binh vào quân đội vẫn chưa hoàn toàn thành công. Một yếu tố quan trọng khác là do sự phân định trách nhiệm không được rõ rệt giữa quân đội chính qui và các lực lượng địa phương quân, nhất là giữa các đơn vị Hoa Kỳ và các đơn vị Việt Nam. Thường thì quân đội Việt Nam được lệnh phối hợp với quân đội Hoa Kỳ, nhưng khi đi vào chi tiết thì mọi việc hoàn toàn lộn xộn. Theo ông Robert Komer thì: “[Tình trạng khó khăn là] do hậu quả của sự thiếu phối hợp. Thay vì phối hợp thì các đoàn thể lại tranh chấp những phương tiện khan hiếm cho riêng tổ chức của mình. Thế là thay vì tìm cách hợp tác các đoàn thể lại tìm cách tranh chấp, cản trở lẫn nhau.”

“Cản trở lẫn nhau” quả là cách diễn tả xác thực tình trạng ở Việt Nam lúc đó. Những công chức Việt Nam chưa hiểu rõ nhiệm vụ của mình thường được thượng cấp cho lệnh phối hợp hoạt động cùng các nhân viên Hoa Kỳ. Nhưng phối hợp với những nhân viên Hoa Kỳ nào? Có quá nhiều các cơ quan Hoa Kỳ cùng hoạt động ở miền quê. MACV, USAID, JUSPAO, CIA, DIA. Đó chỉ mới là danh sách sơ lược của một vài cơ quan. Thường thì các hoạt động cứ chồng chất lên nhau và lập lại y khuôn những hoạt động trước. Rồi thì các cơ quan bỏ ra hầu hết thời giờ để đối phó với nhau. Xây Dựng Nông Thôn là bổn phận và trách nhiệm của mọi người, nhưng rút cục chẳng phải là bổn phận và trách nhiệm của ai cả.

Cuộc họp thượng đỉnh ở Guam đương đầu với vấn đề cản chân dây chuyền bằng cách đề cử ông Robert Komer điều hành trông coi toàn thể mọi nỗ lực Xây Dựng Nông Thôn. Ông và tướng Nguyễn Đức Thắng được giao phó nhiệm vụ xếp đặt cho có qui củ những chương trình khác biệt. Lúc này, chương trình Xây Dựng Nông Thôn được soạn thảo để áp dụng ngay sau khi cuộc bầu cử Tổng Thống của Việt Nam chấm dứt. Chương trình Xây Dựng Nông Thôn nhằm mục đích tạo cho Việt Nam một thế đứng trong tương lai để có thể tự lực cánh sinh, khỏi cần đến quân đội Hoa Kỳ. Và nếu có cần thì cũng chỉ cần viện trợ kinh tế mà thôi.

Trên phương diện này, cuộc họp ở Guam đã khởi đầu chính sách “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”, một chánh sách mà hai năm sau Tổng Thống Nixon sẽ chánh thức áp dụng. Tuy thế, vào tháng 3 năm 1967, vẫn chưa ai nghe gì đến danh từ “Việt Nam Hóa Chiến Tranh.” Lúc này, tên của các chương trình có liên quan đến chiến cuộc vẫn là “Chiến Tranh Ăn Mòn” (“war of attrition”) hoặc “Tia Sáng Cuối Đường Hầm.” Vì vẫn chưa ai biết rõ thời điểm kết thúc của chiến cuộc Việt Nam mà chính quyền Johnson lại muốn có thành quả rõ rệt nên Hoa Kỳ đã chuyển viện trợ cho Việt Nam cả về chính trị, kinh tế lẫn quân sự. Nỗ lực viện trợ của Hoa Kỳ thay đổi là vì họ muốn thấy thành quả một cách rõ rệt. Nếu chưa thể có những thành quả đáng kể về mặt quân sự thì ít ra chính phủ Hoa Kỳ cũng muốn thấy rằng sự ủng hộ của họ đã mang lại thành quả trên những lãnh vực khác chẳng hạn như kinh tế hoặc chính trị. Nói một cách rõ hơn thì Hoa Kỳ đã bắt đầu sốt ruột.

Chúng tôi cũng đã bàn bạc riêng với nhau về các vấn đề khó khăn. Mặc dù chưa có dấu hiệu gì rõ rệt cho thấy rồi đây Hoa Kỳ sẽ rút lui, tôi đã cố khuyên nhủ cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ về việc cần thiết phải sửa soạn trước tình trạng nội bộ của Việt Nam để phòng bị trường hợp phải đối phó với sự rút lui của Hoa Kỳ.

Nếu bảo rằng đây là những vấn đề đã chiếm lĩnh đầu óc chúng tôi khi đến họp ở Guam thì cũng không hoàn toàn đúng hẳn. Những suy nghĩ của chúng tôi, hoặc ít ra là của riêng tôi, hoàn toàn được dựa trên những điều mà tôi cho là thận trọng tối thiểu và hữu lý. Sau cuộc họp tất cả đều cho rằng đây là một cuộc họp với kết quả khả quan, tuy rằng nhận xét này vẫn có vẻ đúng cho phái đoàn Việt Nam hơn là cho phái đoàn Hoa Kỳ. Hoa Kỳ hứa sẽ tiếp tục viện trợ và tham khảo ý kiến Việt Nam trong mọi biến chuyển liên quan đến những đề nghị đàm phán hòa bình của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant. Chúng tôi vô cùng hài lòng khi thấy Hoa Kỳ có ý nhấn mạnh các chương trình Xây Dựng Nông Thôn. Nếu chúng tôi có lo lắng thì cũng chỉ là lo lắng cho những cuộc bầu cử sắp đến của Việt Nam mà thôi. Tại Việt Nam lúc này cuộc bầu cử đã đi đến giai đoạn tổng tuyển cử toàn quốc. Chỉ còn vẻn vẹn 5 tháng trước khi cuộc tổng tuyển cử bắt đầu. Đây là lần đầu tiên Việt Nam được tự do bầu cử Tổng Thống. Khi cuộc họp ở Guam kết thúc, ông Thiệu và ông Kỳ đã bắt đầu sửa soạn các chiến dịch vận động. Vì đã quen với sự hiện diện của tôi sau nhiều năm cộng tác ròng rã, hai ông Thiệu, Kỳ đã quên rằng tôi nay đã làm đại sứ và không còn là một nhân vật trong chánh phủ Sài Gòn nữa. Họ mời tôi cùng lên đường về nước. Vào lúc đó, tôi cũng vừa nhận được một lời mời khác của Tổng Thống Johnson. Ông muốn tôi cùng bay chung chuyến bay với ông về Hoa Thịnh Đốn. Đây là một cử chỉ thân thiện của ông. Do đó vào ngày 21-3, tôi chia tay các bạn bè VN để tháp tùng đoàn tùy tùng của TT Johnson trên chuyến bay riêng của ông ngược về hướng đông.

Chiếc phi cơ phản lực Air Force One được trang trí một cách hết sức tỉ mỉ. Con dấu Tổng Thống dường như được khắc vào tất cả mọi vật, kể cả từ khăn tay, gạt tàn thuốc cho đến những bộ dao nhỏ. Tôi vừa an vị trên chuyến bay thì một nhân viên đến mời tôi đến khu dành riêng của Tổng Thống để cùng ông xem phim. Tôi đến Cabin vào lúc Tổng Thống Johnson đang nằm dài trên chiếc ghế nghỉ cùng với các ông Rusk, McNamara và Rostow ngồi quanh chiếc Sofa bao quanh. Tôi ngồi chung vào với họ và chúng tôi cùng xem một cuốn phim tài liệu ngắn.

Cuốn phim trình bày vấn đề Trung Quốc đang sửa soạn để trở thành một cường quốc nguyên tử, nhưng tôi thấy mình không quan tâm vào màn ảnh bằng quan tâm đến những người đang ngồi xem phim. Tổng Thống Johnson ngồi xem thật trầm tư và phát biểu rất ít. Tôi tự hỏi không hiểu ông đang nghĩ gì và đoán rằng nếu ông đang suy tư về “yếu tố Trung Hoa” trong phương trình chiến cuộc Việt Nam thì có lẽ ông cũng không xem nhẹ Trung Hoa cho lắm. Tôi cũng suy nghĩ về những giới hạn Tổng Thống Johnson tự đặt ra khi cho lệnh phát động chương trình oanh tạc Bắc Việt. Giới hạn chương trình oanh tạc được đưa ra chẳng qua cũng chỉ để tránh khiêu khích Trung Hoa nhảy vào cuộc. Lúc này, chưa một ai trong chúng tôi có thể đoán trước được rằng chỉ độ vài năm sau, hai nước Xã Hội Chủ Nghĩa đang đậm đà trong một tư thế liên minh chính họ đã gọi là “Môi với Răng” lại có thể trở thành thù địch.

Chín giờ sau, máy bay đáp xuống căn cứ không lực Andrew bên ngoài Hoa Thịnh Đốn. Từ nơi này, chúng tôi lên trực thăng để đáp xuống bãi cỏ phía sau Tòa Bạch Ốc. Tại tòa đại sứ, vào ngày hôm sau, đúng với lệ thích lưu lại kỷ niệm của người Hoa Kỳ, tôi nhận được một tấm khung lồng bản ghi rằng tôi đã cùng Tổng Thống Johnson bay qua biển Thái Bình Dương trên chuyến bay Air Force One. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"