Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

32 – Cuộc Độc Cử 


Chương 32
Cuộc Độc Cử

Vào tháng 2 năm 1971, sau khi ông Kỳ từ Hoa Thịnh Đốn trở về Sài Gòn được khoảng sáu tuần thì kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh bắt đầu bước vào giai đoạn thử thách. Ngược hẳn với sự tiên đoán của tôi, sự thử thách không phải là những cuộc phòng thủ tự vệ mà lại là những cuộc tấn công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào quân đội Bắc Việt.

Tôi bắt đầu có linh cảm về những sự thử thách của Việt Nam khi nhận được điện văn của ông Thiệu vào ngày mùng 1 tháng 2 cho lệnh tôi phải ngưng công bố những tin tức chiến sự có liên quan đến Lào và Cam Bốt cho đến khi có lệnh mới. Nhiều ngày sau đó, tôi nhận được một bức điện văn bằng mật mã cho biết quân đội Việt Nam sắp sửa tấn công vào các đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào. Cuộc tấn công ở Lào sẽ được phối hợp để những đơn vị của Việt Nam ở đó có thể tấn công cùng lúc với một cuộc tấn công tương tự khác ở Cam Bốt. Trong cả hai cuộc tấn công vừa kể, quân đội Việt Nam sẽ tự điều động các cuộc hành quân. Tuy Hoa Kỳ vẫn yểm trợ nhưng trong cả hai cuộc tấn công đều không có cố vấn người Mỹ. (Nghị Quyết Cooper-Church ban hành vào cuối năm 1970 đã cấm các đội quân Hoa Kỳ không được hoạt động phía ngoài ranh giới Miền Nam Việt Nam) Vào ngày mùng 7, phụ tá của ông Thiệu là ông Hoàng Đức Nhã điện thoại xin tôi giúp ý kiến nếu Việt Nam cần phải trình bày các cuộc hành quân với giới báo chí. Việt Nam đặt mật danh cho những cuộc hành quân này là Lam Sơn 719.

Chiến dịch Lam Sơn chứng tỏ sự lạc quan của ông Thiệu và các tướng lãnh Việt Nam. Tuy tôi không được rõ nhiều chi tiết về những cuộc hành quân, sự lạc quan của họ không mấy làm tôi ngạc nhiên. Mới tháng 7 trước đây, tôi đã ở lại Việt Nam suốt một tháng trường để quan sát. Trong những chuyến đi qua nhiều vùng khác biệt, tôi đã cố gắng tự mình tìm hiểu tình hình. Ở gần như tất cả các vùng đi qua, tôi đều thấy rằng tinh thần chiến đấu của các binh sĩ Việt Nam rất cao. Ít ra là về mặt tinh thần họ cũng tự tin là họ có thể đối phó được với việc rút quân của Hoa Kỳ một cách dễ dàng. Tôi có cảm giác là có lẽ họ đã đi tới kết luận rằng nếu tình trạng bó buộc thì sự hiện diện của Hoa Kỳ cũng chẳng phải là điều cần thiết. Cuộc hành quân vào Cam Bốt lúc này quả là một niềm khích lệ đối với họ. Dĩ nhiên trong cuộc hành quân đó, Hoa Kỳ vẫn còn hỗ trợ phần nào, nhưng quân đội Việt Nam đã chứng tỏ được rằng những đơn vị của họ hoàn toàn tự chủ. Khi cuộc hành quân kết thúc họ cảm thấy họ trở về như những người hùng đã chinh phục được Cam Bốt.

Sau khi kết thúc chuyến đi thăm những nơi quân đội Việt Nam đóng quân, tôi đã thấy tinh thần chiến đấu của quân đội Việt Nam rất cao. Tuy thế tôi vẫn lo lắng chẳng hiểu quân đội Việt Nam có được huấn luyện đúng mức hoặc có được trang bị vũ khí đầy đủ hay chưa? Sở dĩ tôi lo lắng như vậy là vì tôi đã có dịp chứng kiến những cách làm việc tắc trách về phía Hoa Kỳ kể từ sau cuộc họp thượng đỉnh ở Midway. Thực ra thì sau cuộc họp ở Midway, quốc hội Hoa Kỳ có lập ra một Ủy Ban đặc trách để theo dõi các chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh. Tuy trên thủ tục thì Ủy Ban đặc trách này bao gồm cả các nhân viên của Tòa Bạch Ốc, của Ngũ Giác Đài, của tình báo CIA và của Bộ Ngoại Giao, nhưng trên thực tế thì vấn đề lại khác hẳn. Hoạt động của Ủy Ban đặc trách Việt Nam Hóa Chiến Tranh không hề có kế hoạch gì nhất định cả. Tuy cứ hai tuần lại có một lần họp, nhưng kỳ thật thì chẳng có gì đáng gọi là kế hoạch hoặc kỹ thuật tổ chức. Vấn đề Việt Nam Hóa Chiến Tranh tuy quan trọng là thế mà Hoa Kỳ vẫn chẳng chỉ định nhân vật nào làm người đứng đầu tổ chức. Theo dự định của Ủy Ban đặc trách thì đáng nhẽ Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ phải đứng ra điều động chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh, nhưng trên thực tế thì Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ chỉ theo dõi một cách lơ là và chính tướng Creighton Abrams, người thay thế tướng Westmoreland vào năm 1968, cùng ông Cao Văn Viên và ông Thiệu đã phải đứng ra tự điều động một phần các kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh. Cách tổ chức lỏng lẻo này vừa thiếu hẳn những mục tiêu nhất định lại vừa thiếu phối hợp vì thế tầm mức hữu hiệu của chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh thật là khó đoán. Dĩ nhiên vẫn có những lớp huấn luyện cùng những đợt chuyển giao vũ khí nhưng ngoài những điểm tổng quát như vậy hình như chẳng còn gì đáng kể.

Cuộc hành quân Lam Sơn bắt đầu vào ngày mùng 8 tháng 2-1971. Ngay hôm sau đó, tôi đến Ngũ Giác Đài vừa để nghe tin tường trình, vừa để kiểm lại những tin tức tôi đã thâu nhận được từ Sài Gòn và cũng vừa là để xem giới quân sự Hoa Kỳ suy xét ra sao. Lúc đến nơi tôi cảm thấy nhẹ nhõm phần nào khi thấy Hoa Kỳ có vẻ lạc quan đối với diễn tiến cuộc hành quân. Tình hình chiến sự Việt Nam đang tiến triển khả quan so với những mục tiêu chiến dịch Lam Sơn đặt ra. Tuy rằng cuộc tiến quân có phần hơi chậm, quân đội Việt Nam vẫn chưa gặp phải khó khăn nào đáng kể.

Khoảng một hai ngày sau, tin tức từ Sài Gòn cho thấy mọi sự vẫn tiến hành tốt đẹp và rồi sau đó tôi chẳng còn nhận được tin tức gì. Mặc dầu tôi đã đánh điện và yêu cầu Sài Gòn cho tôi biết rõ rệt chi tiết mà vẫn chẳng có tin tức gì của Sài Gòn cả. Tình trạng im lặng trái ngược vào lúc này so với những tin tức ồ ạt lúc đầu quả là kỳ quái. Tin tức từ Ngũ Giác Đài cho biết rằng quân đội Việt Nam đã gặp khó khăn gần tỉnh Tchepone nguyên là mục tiêu chính của cuộc hành quân và cũng là nơi Việt Cộng đặt căn cứ. Nhưng dường như cả Ngũ Giác Đài cũng không có tin tức gì rõ rệt về những khó khăn của quân đội Việt Nam.

Dần dà, qua những tin tức của Ngũ Giác Đài, của báo chí, và những tin tức từ Sài Gòn, tình hình chiến sự ngày càng rõ rệt. Bắc Việt đã tăng cường quân đội ở TChepone và khiến quân đội Việt Nam phải chịu nhiều tổn thất, nhưng vào ngày 8 tháng 3, trước khi lui về biên giới, quân đội Việt Nam đã tìm cách chiếm được Tchepone. Vì áp lực liên tục của Bắc Việt, tại vài nơi cuộc rút lui đã gặp khó khăn. Tuy thế, ở nhiều nơi khác những đơn vị Việt Nam đã mở đường rút lui vô cùng can đảm. Trong khi đó thì ở Hoa Kỳ, đài truyền hình đã chiếu những đoạn phim tài liệu quay cảnh binh sĩ Việt Nam đang bám vào những chiếc trực thăng tản cư. Những khúc phim đó đã đơn giản hóa vấn đề quá mức và hoàn toàn bóp méo sự thật. Hậu quả là những người xem phim đã có ấn tượng khó phai rằng quân đội Việt Nam đã hoàn toàn thất bại. Riêng về phương diện quân sự thì phản ứng đối với cuộc hành quân Lam Sơn thật là phức tạp. Một mặt thì một vài giới chức quân sự Hoa Kỳ đã lên án rằng quân đội Việt Nam chưa tấn công hết sức, nhưng trái lại, những giới chức quân sự Việt Nam lại cho rằng những ủng hộ không lực của Hoa Kỳ chỉ lúc có lúc không và không hoàn toàn hữu hiệu.

Vào giữa tháng 3 1971, thì cuộc tấn công Lam Sơn hoàn toàn kết thúc. Những phân tách gia bắt đầu tính toán, cân bằng những tổn thất nhân mạng, vật liệu và tinh thần của Việt Nam cùng những tổn thất của các hệ thống tiếp vận của Bắc Việt.

Bất kể là phản ứng về cuộc hành quân Lam Sơn phức tạp ra sao đối với giới quân sự, nhưng riêng về mặt dân sự thì phản ứng của dân chúng Hoa Kỳ thật là rõ rệt: Cuộc hành quân Lam Sơn đã khơi lại những sự chống đối vẫn còn âm ỉ trong dư luận Hoa Kỳ. Chống đối nổ bùng ngay vào lúc bắt đầu có tin tức về cuộc hành quân Lam Sơn. Càng ngày chống đối càng mãnh liệt và tiếp tục dâng cao đến cả nhiều tuần lễ sau khi cuộc hành quân Lam Sơn đã hoàn toàn chấm dứt. Vào ngày 24 tháng 4, gần 200,000 người chống đối tụ họp ở Hoa Thịnh Đốn và bắt đầu biểu tình suốt một tuần lễ ngay trên các đường phố. Trong giai đoạn này, hai nhân viên của chính quyền Việt Nam là ông Nguyễn Văn Huyền, chủ tịch Thượng Viện và ông Trần Văn Lắm Bộ Trưởng Ngoại Giao cũng có mặt ở Hoa Thịnh Đốn. Nhân cơ hội họ đang ở Hoa Kỳ tôi bèn hướng dẫn họ để họ có thể tự nhìn thấy những sự chống đối đã làm rung chuyển Hoa Thịnh Đốn từ nhiều năm qua. Chúng tôi cùng nhau lái quanh vòng đai phía ngoài những cuộc biểu tình trên một chiếc xe Buick màu nâu xám để tránh sự chú ý. Tôi cố lách đến sát chỗ những cuộc biểu tình để cho hai ông Huyền và Lắm có dịp thấy rõ những y phục rách rưới, những khuôn mặt căm phẫn của những người biểu tình và những khuôn mặt lầm lỳ, lạnh lùng của các Vệ Quốc Binh đứng giữ trật tự. Cả ông Huyền lẫn ông Lắm đều hết sức kinh ngạc. Vì cả hai ông vừa là bạn tôi lại vừa là những nhân vật quan trọng trong chính phủ, nên trước đây họ đã nhiều lần nghe tôi tường trình về những cuộc biểu tình dữ dội ở Hoa Kỳ. Tuy thế, sự kinh ngạc của họ cho thấy những điều họ được nghe lúc trước quả thật chưa thấm thía gì với những điều họ đang thấy lúc này.

Vào ngày 3 tháng 5-1971, số cảnh sát cùng vệ quốc binh canh gác ở Hoa Thịnh Đốn lên đến 10,000. Số người chống đối bị bắt lên đến cả trăm. Ngay ngày hôm sau trong một cuộc diễn hành đi về phía quốc hội Hoa Kỳ, lại có nhiều người khác bị bắt. Vào ngày 6 tháng 5-1971, cảnh sát bao quanh tòa đại sứ để ngăn chận một cuộc bao vây do những người chống đối tổ chức. Tuy cuộc bao vây thất bại, chúng tôi vẫn chẳng thấy tâm thần an ổn thêm được chút nào. Và rồi khoảng một thời gian ngắn sau đó thì những cuộc chống đối trở thành hỗn loạn và bạo động. Cuối cùng, tình trạng bạo động quá khích của các nhóm phản chiến đã khiến dân chúng Hoa Kỳ mất cảm tình với các cuộc chống đối. Nhũng người theo dõi sát tình hình lúc đó có thể thấy thống kê ủng hộ tổng thống Nixon có phần tăng. Nhưng tất cả những mức độ tăng giảm của các diễn biến đều chỉ là những biến chuyển tạm thời. Trong một bản tường trình dài gửi cho ông Thiệu vào ngày 14 tháng 5, năm 1971, lúc ghi lại những biến cố trong giai đoạn này tôi đã viết như sau: Hình ảnh nổi bật ở Hoa Thịnh Đốn lúc này là quang cảnh hàng ngàn sinh viên mang cờ Việt Cộng cùng những hình ảnh của 10,000 binh lính Hoa Kỳ được lệnh giữ trật tự đang tụ tập khắp nơi trên các đường phố. Tối đến Ti Vi lần lượt chiếu lại tất cả những quang cảnh chống đối ban ngày. Dĩ nhiên cảnh tượng không khỏi làm người dân Hoa Kỳ đặt câu hỏi: -Chừng nào cuộc chiến mới kết thúc? Câu hỏi ám ảnh này sẽ khiến một người dân Hoa Kỳ bình thường kết luận rằng Hoa Kỳ nên từ bỏ cuộc chiến Việt Nam hơn là tiếp tục. Hình ảnh chống đối luôn luôn ám ảnh tổng thống Nixon khi ông suy nghĩ về tương lai chiến cuộc Việt Nam… Trong khi đó những đoàn thể phản chiến lại quan niệm rằng việc rút quân của Hoa Kỳ vào lúc này thật đã quá muộn. Bây giờ thì câu hỏi ngắn gọn của họ chỉ là: -Chừng nào mới chấm dứt chiến tranh? Hay nói một cách khác thì thái độ của họ là: -Chúng tôi không cần biết hậu quả ra sao, miễn là chiến tranh phải chấm dứt.

Thật sự thì sau khi những cuộc biểu tình chống đối vào tháng 4 và đầu tháng 5-1971 giảm xuống, một ý nghĩ tai hại đã len lỏi vào đầu óc dân chúng Hoa Kỳ. Bất kể mục tiêu ngoại giao của Hoa Kỳ thế nào, bất kể những khát khao của những người Việt Nam muốn sống tự do ra sao, bất kể tất cả các cách lý luận từ bất kỳ quan niệm nào, đối với nhiều người dân Hoa Kỳ, cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến hoàn toàn sai lầm.

Đối với tôi thì quan niệm này thật là lệch lạc. Cứ nhìn vào lịch sử hiện đại để so sánh thì trước khi các nước ở Âu Châu tham gia thế chiến thứ hai để chống lại Hitler và Đức Quốc Xã, ở Âu Châu cũng đã có những cuộc biểu tình chống chiến tranh chẳng khác gì những cuộc biểu tình chống chiến tranh ở Hoa Kỳ lúc này. Nếu so sánh những cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam lúc này với những cuộc biểu tình trong thập niên 1930 ở Âu Châu và nhìn vấn đề theo một quan niệm lịch sử thì những cuộc biểu tình chống chiến tranh lúc này quả không khác gì những cuộc biểu tình chống chiến tranh của dân chúng Âu Châu lúc trước. Tuy thế trong sự so sánh đó có một điểm khác biệt quan trọng duy nhất đáng kể là trong thập niên 1930 nếu Anh và Pháp khoanh tay thì sự khoanh tay của họ chẳng khác nào tự vẫn. Nhưng hiện giờ, những cuộc biểu tình của các nhóm phản chiến chỉ đe dọa vấn đề sinh tử của một mình Việt Nam mà thôi, còn Hoa Kỳ thật ra chẳng hề hấn gì. Viễn tượng hãi hùng khi so sánh cảnh tượng đệ nhị thế chiến với chiến cuộc Việt Nam là khi Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra, Âu Châu còn có Hoa Kỳ đứng sau hậu thuẫn cứu giúp. Nhưng đối với hoàn cảnh của Việt Nam lúc này thì chẳng có quốc gia nào đứng sau để cứu giúp Việt Nam nếu Hoa Kỳ rút đi cả.

Tôi biết rằng dầu sớm, dầu muộn, những đề tài của các nhóm phản chiến trong dư luận cũng sẽ ảnh hưởng các quyết định của quốc hội Hoa Kỳ. Vào ngày 15 tháng 5 năm 1971, tôi đã điện cho ông Thiệu như sau: “Hiện giờ những người chống đối chiến tranh đặt vấn đề một cách hết sức rõ rệt là: “Bao giờ thì chấm dứt chiến tranh?” chứ không phải là “Phải chấm dứt chiến tranh bằng cách nào?” Những tổ chức thiên tả và phản chiến năm nay đã khôn ngoan vận động sự thiếu kiên nhẫn của nhân dân Hoa Kỳ. Họ cũng khéo léo lợi dụng những khía cạnh về nhân đạo và luân lý của chiến cuộc Việt Nam.”

Lúc này, những nhóm phản chiến không những chỉ đặt áp lực vào tổng thống Nixon mà còn cả vào quốc hội nữa. Tôi viết cho ông Thiệu rằng: “Nỗ lực của những nhóm phản chiến sẽ khiến chánh phủ Hoa Kỳ gặp phải rất nhiều khó khăn vì [những sự chống đối này sẽ ảnh hưởng quốc hội trực tiếp và] quốc hội bao giờ cũng nắm quyền tối thượng trong việc định đoạt ngân sách quốc gia… Nói tóm lại thì trong giai đoạn kế tiếp chính quyền Nixon sẽ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn. Chính quyền Nixon sẽ phải đối phó với dư luận và các phong trào phản chiến được tổ chức rất kỹ lưỡng.”

Trong tất cả những lời khuyến cáo tôi gửi về chẳng có điều nào có thể gọi là quá xa sự thực. Vào mùa xuân năm 1971, quốc hội Hoa Kỳ đưa ra một loạt các đạo luật nhằm giảm thiểu khả năng giúp đỡ Việt Nam của chánh phủ Nixon. Các đạo luật giới hạn ngân sách chi tiêu cho các cuộc hành quân ở Lào và Cam Bốt rồi thì các đạo luật cắt hẳn những ngân sách đó, và sau cùng là các đạo luật bắt buộc Hoa Kỳ phải rút hết quân ở Việt Nam về. Tôi đã tham gia vào những trận chiến này, vận động, tranh luận vấn đề, trình bày lập trường và cố làm tất cả mọi việc để lật ngược thế cờ. Nhưng càng ngày tình trạng càng khắc nghiệt và số người ủng hộ Việt Nam giảm dần. Vào ngày 22 tháng 2, Đảng Dân Chủ đã đưa ra một quyết nghị yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam vào năm 1972. Tuy rằng nghị quyết này chưa ép buộc được chánh phủ Nixon phải rút quân ngay, nghị quyết đó đã chuyển chiến cuộc Việt Nam thành một đề tài tranh chấp giữa hai đảng dân chủ và cộng hòa. Sau bốn tháng vật vã kế tiếp, chính thượng viện thông qua một quyết nghị đòi hỏi chánh phủ phải rút quân “càng sớm càng tốt.” Mỗi ngày tôi lại mỏi mòn thêm vì mất dần đi ít nhiều ủng hộ và mỗi đêm tôi lại cố trình bày những kinh nghiệm tôi đang trải qua hàng ngày trong các bức điện gửi về Sài Gòn.

Khi tình trạng chống đối ở Hoa Kỳ ngày càng sôi sục thì lại có một vấn đề khó khăn khác từ từ xuất hiện: Cuộc bầu cử tổng thống Việt Nam dự trù vào tháng 9 đã gần kề. Vào ngày 14 tháng 5, sau khi tôi đã gửi cho ông Thiệu một bức điện văn dài:

Theo những nhận định chính trị ở Hoa Thịnh Đốn lúc này thì Hoa Kỳ đang chú tâm vào cuộc bầu cử ở Việt Nam. Hiện tại có hai dư luận nổi bật hoàn toàn khác biệt: Ý kiến thứ nhất cho rằng Hoa Kỳ nên gửi những phái đoàn quan sát viên với mục đích ngấm ngầm ngăn cản Hoa Kỳ vận động để ủng hộ tổng thống khi tổng thống ra ứng cử. Dự định này được gọi là Kế Hoạch Bầu Cử Việt Nam. Trái lại dư luận thứ hai lại cho rằng đây là một vấn đề riêng của nội bộ Việt Nam. Cả hai ông Sullivan cùng ông Holdridge đều đã hứa rằng Hoa Kỳ sẽ phối hợp với chúng ta trước khi có thái độ rõ rệt.

Thực sự thì chánh phủ Hoa Kỳ đã chú ý đến cuộc bầu cử ở Việt Nam từ đầu tháng 4. Trong lúc những cuộc biểu tình đang được tổ chức rầm rộ ở thủ đô Hoa Kỳ thì thực sự Hoa Kỳ không có thời giờ để chú tâm đến những vấn đề nội bộ của Việt Nam, nhưng một khi những cuộc biểu tình đã lắng xuống thì chính phủ Hoa Kỳ sẽ phải trở lại lo về vấn đề này. Những chống đối chiến cuộc ngày càng tăng đã khiến Hoa Kỳ hoặc ít ra là một số nhân viên trong chánh phủ Hoa Kỳ ngày càng chú tâm vào vấn đề Việt Nam. Vào ngày 14, tôi đã điện về Sài Gòn như sau:

Nói tóm lại, nhiều nhân viên ở tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao đã hy vọng tổng thống chú tâm vào những vấn đề liệt kê phía dưới. Tất cả đều đồng ý rằng đây là những vấn đề có ảnh hưởng nhiều đến dư luận dân chúng Hoa Kỳ.

1. Khả năng của quân đội Việt Nam.

2. Thể thức bầu cử của Việt Nam.

3. Tham nhũng.

4. Vấn đề thuốc phiện.

5. Nỗ lực của Việt Nam trong việc liên lạc với giới báo chí quốc tế để tránh chỉ trích và gây ấn tượng tốt với thế giới.

Chính quyền Sài Gòn đã bắt tay vào tất cả những vấn đề tôi liệt kê trừ vấn đề soạn thảo các thể thức bầu cử. Thể thức bầu cử chắc chắn sẽ là mục tiêu chính cho mọi sự chú ý và theo dõi của dư luận Hoa kỳ. Vì nắm giữ vai trò vận động và liên lạc với các đoàn thể, tôi quan niệm rằng, cuộc bầu cử sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh dân chủ của chánh phủ Việt Nam đối với cả Hoa Kỳ lẫn thế giới. Từ trước đến nay, Hoa Kỳ lúc nào cũng chú tâm vào những tệ trạng của chánh phủ Việt Nam, nhất là vấn đề tham nhũng và vấn đề đàn áp. Thật ra thì những chỉ trích về vấn đề tham nhũng cũng có phần đúng nhưng những chỉ trích của Hoa Kỳ về vấn đề đàn áp có vẻ quá khắc nghiệt. Còn về những tiến triển khả quan của chế độ Việt Nam chẳng hạn như vấn đề dân chủ vẫn phát triển trong khung cảnh chiến tranh thì lại không thấy những người chỉ trích hoặc chống đối ở Hoa kỳ nhắc nhở gì đến.

Riêng đối với tôi thì từ một vị trí cách xa Việt Nam quá nửa quả địa cầu, tôi thấy dường như những diễn biến chính trị ở Việt Nam đang cùng một lúc đi vào hai ngã. Một mặt những tiến triển cho thấy Việt Nam càng ngày càng biến dần để trở thành một chánh phủ dân chủ hợp hiến. Mới đây Việt Nam lại chứng tỏ điều này qua cuộc bầu cử Thượng Viện. Tại cả Thượng lẫn Hạ viện đều có những nhân vật chống đối chánh phủ đắc cử. Một trong những nhân vật chống đối điển hình đã đắc cử là ông Trần Văn Tuyên, giáo viên dạy tôi ở trường trung học Thăng Long cùng thời với ông Võ Nguyên Giáp. Kể từ năm 1966, các biến cố chính trị ở Việt Nam cho thấy chánh phủ Việt Nam đang cải thiện để tiến tới một chánh phủ hoàn toàn dân chủ.

Nhưng nếu nhìn qua một khía cạnh khác thì bên trong chánh phủ Việt Nam vẫn còn nạn bè cánh và tranh chấp. Nguyên do chính gây ra vấn đề này là bản tính thích quyền uy của ông Thiệu. Ông Thiệu lúc nào cũng muốn có quyền lực cá nhân và luôn nghi ngờ tất cả những người toan tính giới hạn quyền lực của ông. Tuy ông chính là tổng thống đắc cử của một nước dân chủ mà lề lối làm việc của ông lại không dân chủ chút nào. Những người do chính phủ ông thâu nhận đa số đều nhu nhược và thiếu khả năng. Và chính vì thế nên họ ít khi dám chống đối ông. Chính họ đã khiến thế giới bên ngoài nhìn vào chánh phủ Việt Nam như một chánh phủ lúc nào cũng thụ động và bất lực. Đã thế, ngay cả trong quân đội ông Thiệu cũng dùng người dựa trên quan điểm trung thành với ông hơn là tài năng. Hậu quả là những viên tướng bất tài đã lãng phí rất nhiều tài năng, lòng can đảm và nếu không nói đến cả tính mạng của những binh sĩ dưới quyền họ.

Đối với Hoa Kỳ là một nước đã đóng góp cả tài nguyên lẫn sinh mạng của binh sĩ cho Việt Nam thì những khía cạnh xấu của Việt Nam lúc nào cũng nổi bật còn những khía cạnh tốt đẹp thì lúc nào cũng mù mờ khó thấy. Vì tôi đang cùng làm việc với những dân biểu, Thượng Nghị Sĩ của quốc hội Hoa Kỳ nên tôi biết rằng cuộc bầu cử năm 1971 sẽ là một biến cố vô cùng quan trọng. Cuộc bầu cử này chính là cơ hội để Việt Nam có dịp thể hiện tính cách dân chủ của chính phủ Việt Nam. Nếu có một cuộc bầu cử công bằng, chính trực, Việt Nam sẽ gạt bỏ được tất cả những chỉ trích lên án việc Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho Việt Nam là việc sai lầm.

Vào tháng tư, tôi được tin là ông Kỳ sẽ đứng ra tranh cử với ông Thiệu. Tin tức cũng nói rằng Tướng Minh, người đảo chánh ông Diệm năm 1963 cũng dự định ra tranh cử. Rồi vào ngày 2 tháng 7-1971, quốc hội Việt Nam bắt đầu bàn luận về vấn đề luật lệ bầu cử. Theo hiến pháp năm 1967 thì cứ bốn năm lại có một cuộc bầu cử tổng thống. Nhưng hiến pháp lại chưa quy định rõ rệt thể thức bầu cử. Lúc này quốc hội đang bàn luận chi tiết các thể thức này. Vào ngày 22 tháng 7, quốc hội thông qua một đạo luật đòi hỏi các ứng cử viên phải thâu thập được chữ ký của 40 người trong quốc hội hoặc chữ ký của 100 nhân viên trong các Hội Đồng địa phương. Đạo luật này có thể được coi là một âm mưu của ông Thiệu nhằm mục đích gạt bỏ những ứng cử viên đứng ra tranh cử với ông. Việc ban hành đạo luật đã khiến cuộc bầu cử mất đi tính chất công bằng. Tin tức chưa ghi rõ rệt ông Kỳ và tướng Minh có hội đủ tiêu chuẩn hay không nhưng việc ban hành đạo luật đã khiến mọi người thấy rõ ông Thiệu đang vận động ráo riết để có thể tái đắc cử. Tin tức ngày càng lan rộng về việc ông Thiệu đã dùng cả những phương pháp dọa nạt và hối lộ đối với nhiều dân biểu quốc hội.

Nhưng chỉ vài hôm sau thì tuy bị những điều khoản trong đạo luật bầu cử mà quốc hội Việt Nam vừa ban hành cản trở, tướng Minh đã tìm được cách hội đủ tiêu chuẩn. Riêng ông Kỳ thì lại không hội đủ tiêu chuẩn. Quá phẫn khích, ông Kỳ đòi hỏi tối cao pháp viện xét lại tính chất hợp pháp của đạo luật bầu cử do quốc hội ban hành. Thấy những diễn biến ngày càng phức tạp, tướng Minh đã bắt đầu ngần ngại về việc đứng ra tranh cử. Tuy lúc này thời gian hãy còn quá sớm để kết luận mọi việc, tôi bắt đầu cảm thấy thất vọng. Tôi đã hy vọng cuộc bầu cử sẽ mang lại phần nào những ấn tượng tốt đẹp có thể dùng vào việc ảnh hưởng các quyết định của quốc hội Hoa Kỳ. Thế nhưng diễn biến lúc này cho thấy những vận động rõ rệt của ông Thiệu đã làm cho bộ mặt của Việt Nam trên chính trường quốc tế trở nên khó coi.

Vào ngày 12 tháng 7, cố vấn của ông Thiệu là ông Hoàng Đức Nhã đến Hoa Thịnh Đốn để lượng định phản ứng của Hoa Kỳ. Ông Nhã ở lại một tuần với tôi và tôi đã dẫn ông đến gặp các giới trong chánh phủ và các dân biểu, Thượng Nghị Sĩ của Hoa Kỳ. Ông Nhã nói tiếng Anh rất lưu loát và là người thông minh. Vì đã tốt nghiệp ở một đại học ở Hoa Kỳ, ông Nhã hiểu rõ Hoa Kỳ hơn đa số những người Việt Nam khác. Tuy cách đặt vấn đề một cách thẳng thắn của ông đã khiến nhiều người cho rằng ông quá tự kiêu, tôi lại thấy ông dễ nói chuyện và rất cởi mở. Tôi tin rằng ông Nhã sẽ nhìn thấy ngay tầm mức quan trọng của việc cần phải có một cuộc bầu cử công bằng. Và tôi cũng tin rằng ông Nhã sẽ trình bày rõ rệt những nhận định này với ông Thiệu.

Đối với tôi, ông Nhã là người trung gian giữa tôi và ông Thiệu và tôi cũng khá hiểu ông Nhã để tin ông sẽ thận trọng trong vai trò tế nhị này. Nhưng tôi cũng biết rõ vị trí của tôi là một vị trí hết sức khó khăn. Quá trình liên hệ giữa tôi và ông Kỳ, cộng thêm những nghi ngờ của riêng ông Thiệu đối với tôi đã khiến những nhận định của tôi về cuộc bầu cử có thể bị giảm bớt đi ít nhiều giá trị. Trong quá khứ, tôi đã từng trải qua quá nhiều kinh nghiệm tranh chấp giữa ông Thiệu và ông Kỳ vì vậy trong những năm về sau này, lúc nào tôi cũng cố tránh không để bị vướng vào những sự mâu thuẫn và xích mích giữa ông Kỳ và ông Thiệu. Thật ra thì đã rất nhiều năm qua tôi không hề suy nghĩ thiên lệch chút nào giữa ông Thiệu và ông Kỳ. Vì hoạt động xa Sài Gòn, tôi không còn chú tâm đến những đụng độ cá nhân giữa các nhân vật Việt Nam nữa. Suy tư của tôi đã chuyển hẳn vào sự liên hệ của Việt Nam đối với Hoa Kỳ và các ảnh hưởng của sự liên hệ này đối với vấn đề sống còn của Việt Nam. Bởi vậy, sau khi ông Nhã ra về, tôi đã ngồi lại quan sát, phát biểu rất ít và chẳng hề quan tâm (ít nhất thì tôi cũng có cảm giác là vậy) đến việc yêu cầu được gọi về để tham khảo ý kiến. Ngay cả khi ông Kỳ còn đang dằng co kiện cáo trước tòa, tôi đã dẫn gia đình đi nghỉ mát một tuần ở Haiti.

Lúc tôi trở về thì Tối Cao Pháp Viện Việt Nam phán xét rằng đạo luật ban hành về việc bầu cử hoàn toàn hợp lệ. Như vậy ông Kỳ không hội đủ tiêu chuẩn để ra tranh cử. Sau quyết định của Tối Cao Pháp Viện Việt Nam, đại sứ Ellsworth Bunker trở lại Hoa Thịnh Đốn để tham khảo ý kiến. Thường thường mỗi khi trở về, đại sứ Bunker hay cùng tôi ăn trưa và chuyện trò rất lâu về những diễn biến đang xảy ra. Lần này tôi rất mong được gặp ông Bunker để tìm hiểu rõ tình hình Sài Gòn. Vào ngày 13 tháng 8-1971, tôi đã đến Bộ Ngoại Giao để gặp ông Bunker và ông Sullivan. Ngay sau đó, tôi đã gặp riêng ông Bunker. Cả hai ông Bunker, Sullivan và tôi đều lo ngại về những biến chuyển mới của cuộc bầu cử ở Sài Gòn mà giờ đây người ta đã bắt đầu gọi là cuộc độc cử. Vào ngày 14 tháng 8 tôi điện cho ông Thiệu:

Tôi vừa mới nói chuyện với hai ông Bunker và Sullivan trong mấy ngày qua. Trong lúc nói chuyện, cả hai ông đều lo rằng cuộc bầu cử ở Việt Nam sẽ chỉ có một ứng cử viên trong đó mà thôi. . . . Họ suy luận rằng nếu trường hợp này xảy ra thì quốc hội cùng nhân dân Hoa Kỳ sẽ có cơ hội tha hồ chỉ trích và Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi xin viện trợ. Họ cũng nói rằng tuy chánh phủ Hoa Kỳ là cơ quan hành pháp, nhưng ngân sách của Hoa Kỳ thật sự nằm trong tay quốc hội, nhất là trong tình cảnh hiện thời, những suy nghĩ của quốc hội Hoa Kỳ thật là vô chừng, khó đoán. Mới đây, Hạ viện cũng đồng ý với thượng viện từ chối không viện trợ quân sự cho Pakistan và Hy Lạp. So với một năm trước đây thì việc quốc hội quyết định như vậy thật khó thể tưởng tượng. Vì thế chánh phủ Hoa Kỳ đang dự định gửi một phái đoàn quan sát viên sang Việt Nam để theo dõi cuộc bầu cử. Tuy thế, đa số dân biểu đều cho rằng Hoa Kỳ chẳng nên gửi phái đoàn quan sát nào sang Việt Nam cả…

Về điểm này thì tôi cũng nhận xét thấy rằng những quan niệm của ông Bunker và ông Sullivan về cuộc bầu cử lại không phản ảnh toàn thể ý kiến của Hoa Kỳ. Ít ra thì đây cũng là những điều tôi cảm thấy khi gặp ông John Holdridge, phụ tá của ông Kissinger vào ngày 18. Qua ông Holdridge tôi thấy rõ rằng ông Kissinger đã xem vấn đề bầu cử hoàn toàn là vấn đề thứ yếu so với vấn đề phải có một tình hình “ổn định” ở Việt Nam. Về sau, chính ông Kissinger cũng xác nhận những suy nghĩ của tôi. Ông đã viết trong hồi ký rằng: Tuy những vận động của ông Thiệu “thiếu sáng suốt… cả tổng thống Nixon lẫn tôi đều không có ý định bỏ rơi ông Thiệu; Thật ra thì cắt bỏ viện trợ kinh tế và quân sự tức là vô hình chung hành động để hỗ trợ Bắc Việt. Chúng tôi cho rằng tiếp tục ủng hộ chánh quyền Sài Gòn thật sự không phải là một đặc ân dành cho ông Thiệu mà thật ra là hành động theo chiều hướng lợi ích quốc gia [đối với Hoa Kỳ].”

Thực ra thì trong giai đoạn này, ông Kissinger vẫn đang cố xoay sở để thực thi những kế hoạch ngoại giao của chính phủ Nixon. Lúc này ông Kissinger mới vừa bắt đầu mở màn đàm phán bí mật cùng Bắc Việt và đang sửa soạn để đàm phán với Trung Hoa. Vì vậy ông Kissinger chẳng muốn gì hơn là có một Việt Nam hoàn toàn ổn định. Theo cách nhìn của ông Kissinger thì cuộc bầu cử là một biến cố rủi ro, “khởi nguồn của những sóng gió bấp bênh và bất định.” Nhưng vì đã chọn ủng hộ ông Thiệu và làm lơ trước những thao túng quyền hành của ông Thiệu, ông Kissinger đã vô tình chào đón cuộc độc cử của Việt Nam. Cuối cùng, diễn biến cho thấy trong tất cả các quyết định, quyết định làm lơ trước những vận động của ông Thiệu là quyết định tai hại nhất khiến Việt Nam suy sụp. Thực tình thì từ lúc đó cho đến bây giờ tôi vẫn cho là ông Kissinger thiếu sáng suốt.

Ngày 19 tháng 8, ngay ngày kế tiếp sau khi tôi gặp ông Holdridge thì tin tức từ Sài Gòn cho biết ông Minh đã tự động rút lui khỏi cuộc bầu cử. Rồi vào ngày 21, Tối Cao Pháp Viện Việt Nam chuyển đổi lại quyết định lúc trước, tuyên bố rằng thật ra ông Kỳ hội đủ điều kiện để ra tranh cử. Tuy thế, hai ngày sau ông Kỳ lại tuyên bố không ra tranh cử nữa. Vì cả ông Kỳ lẫn tướng Minh đều đã thấy rõ việc ông Thiệu quyết tâm kềm chế cuộc bầu cử, nên họ cho rằng nếu họ có đứng ra tranh cử thì cũng chỉ là cố làm một việc vẫy vùng vô hiệu. Vào ngày 2 tháng 9, ông Thiệu tuyên bố tuy không có ứng cử viên nào đứng ra tranh cử với ông, cuộc bầu cử Tổng Thống ở Việt Nam vẫn tiến hành như dự định.

Những tuyên bối của ông Thiệu đã kết thúc tiến trình dân chủ ở Việt Nam. Viễn tượng (và chẳng bao lâu sau viễn tượng này biến thành sự thật) độc cử đã khiến dân chúng Việt Nam cho rằng quan niệm dân chủ không phải là một quan niệm thực tế. Kể từ lúc đó trở đi, họ kết luận rằng chính trị là một vấn đề đã được quyết định sẵn. Theo họ thì cuộc độc cử đã khẳng định rõ thực chất của chánh phủ Việt Nam. Họ kết luận rằng dù cho nhìn từ bên trong hay bên ngoài, chánh phủ Việt Nam quả thật là một chánh phủ thối nát và áp bức.

Những hậu quả tai hại của việc thao túng quyền bính sẽ từ từ thâu hẹp ủng hộ của các đoàn thể bên trong Việt Nam và ăn mòn hàng ngũ các dân biểu, Thượng Nghị Sĩ ủng hộ Việt Nam trong quốc hội Hoa Kỳ. Cuộc độc cử đã khiến những nghị viên Hoa Kỳ phải suy nghĩ lại xem thực sự Việt Nam có xứng đáng được họ ủng hộ hay không? Đã đành rằng không hẳn tất cả những hậu quả vừa kể đều do cuộc độc cử năm 1971 gây ra, nhưng trong lịch sử dân chủ ngắn ngủi của Việt Nam, cuộc độc cử quả là một ngã rẽ quan trọng. Tại điểm này, chánh phủ Việt Nam đã gạt bỏ những mục tiêu dân chủ của quốc gia để thỏa mãn những tham vọng uy quyền của một chế độ độc tài.

Vào mùa thu năm 1971 tôi vẫn chưa hề có ý niệm rõ rệt gì về tương lai rồi sẽ ra sao, dĩ nhiên tôi chưa hề tiên liệu được những tai họa đang chờ đón Việt Nam. Tuy thế, tôi đã cảm thấy mệt mỏi và thất vọng. Vào ngày 2 tháng 10, khi nghe tin ông Thiệu chánh thức tái đắc cử, tôi nhận ra rằng mình đang bị đặt vào một tình trạng khó xử. Một mặt vì là đại sứ của một quốc gia có tổng thống vừa mới tái đắc cử, lẽ ra tôi phải xem đây là một dịp đáng mừng và phải đánh điện chúc mừng. Nhưng mặt khác, những lời chúc tụng quả không phản ảnh trung thực ý nghĩ của tôi. Có lẽ đây cũng chỉ là một điều nhỏ mọn, nhưng tôi đã phải suy nghĩ khốn khổ về cách phải làm thế nào để vừa tránh không làm trái với lương tâm lại vừa tránh phải đối xử một cách bất nhã với ông Thiệu vì dù muốn, dù không thì ông Thiệu cũng là tổng thống.

Sau khi đã bỏ ra một ngày một đêm suy nghĩ, tôi đi đến một kết luận có lẽ chỉ là một kết luận hiển nhiên đối với những người có đầu óc thực tế hơn tôi. Dĩ nhiên tôi chỉ có hai đường chọn lựa: Gửi điện văn chúc mừng hoặc là không gửi điện văn chúc mừng. Nếu tôi không gửi, chắc chắn sẽ có tin đồn gần, đồn xa, suy nọ luận kia. Nhưng nếu tôi gửi thì lại hóa ra tự mình từ bỏ tất cả những điều mà tôi đã trọn đời tranh đấu. Cuối cùng tôi quyết định chẳng gửi gì cả ngoài một bản tường trình lạnh lùng trình bày phản ứng của Hoa Kỳ đối với cuộc bầu cử.

Sau khi gửi bản tường trình tôi bắt đầu suy nghĩ đến việc từ chức. Tôi biết rõ ông Thiệu, và biết rõ rằng dù ông Thiệu có nói ra hay không về việc tôi cố ý không chúc mừng thì trong thâm tâm lúc nào ông cũng không quên nổi điều này. Ông Thiệu đã hiểu quá rõ tôi suy nghĩ ra sao về việc độc cử. Hơn nữa, có lẽ ông đã nghi ngờ tôi cùng về phe với đại sứ Bunker để làm áp lực ông và tôi nghĩ rằng rồi đây ông Thiệu cũng sẽ tìm cách thay thế tôi.

Càng suy nghĩ, tôi lại càng thấy rõ vấn đề và lại càng cho rằng lúc này quả là lúc tôi có thể ra đi gọn gàng. Tôi đã ở Hoa Thịnh Đốn gần 5 năm rồi; có lẽ khoảng thời gian phục vụ đã quá đủ. Đời sống sẽ thú vị hơn khi tôi được trở về với tờ Saigon Post. Thỉnh thoảng vào năm trước đây, tôi cũng đã suy nghĩ về việc bắt đầu khởi sự một tờ tuần báo khác hẳn những tờ báo hàng tuần khác. Trong chuyến về thăm Sài Gòn lần trước, tôi đã bàn luận với một số bạn trong giới nhà văn và báo chí. Tất cả đều cho đây là ý kiến rất hay. Ngay trong buổi bàn luận lúc đó thì ý kiến của tôi mới chỉ là một dự định nhưng lúc này tôi tự hỏi phải chăng đã đến lúc nên chuyển ý kiến này thành hành động?

Tôi quyết định về Sài Gòn nói chuyện cùng bạn bè khi ý kiến làm báo bắt đầu thôi thúc mạnh mẽ. Tuy thế khi gửi điện yêu cầu được về Sài Gòn tôi không hề nhận được điện hồi âm. Rõ ràng đây là một dấu hiệu gì đó. Tới lúc này, tôi yêu cầu được chánh thức cho phép quay về. Thay vì trả lời yêu cầu của tôi mạch lạc, ông Nhã đã điện thoại cho tôi nói vắn tắt rằng chúng ta sẽ “bàn luận chuyện này” sau. Bỗng dưng tôi linh cảm đã có diễn biến gì đó và tôi càng cảm thấy mình nên từ chức.

Hẳn nhiên là tôi đã tự đặt mình vào một hoàn cảnh khó xử. Dĩ nhiên, nếu cần ra đi thì việc tự tôi ra đi vẫn tốt hơn là đợi để ông Thiệu chính thức buộc tôi phải ra đi. Tôi chợt suy nghĩ về ông thân. Cả đời, ông đã sống cuộc sống thanh đạm của một nhà nho coi thường thế sự. Rồi tôi lại nghĩ đến ông chú tôi là cụ Kim vẫn thường nhắc nhở rằng: “con người ta ở đời làm việc gì cũng phải cho nó chững.” Có lẽ tôi vẫn chưa hoàn toàn thừa hưởng trọn vẹn được những cách sống gạt hẳn thế sự ra ngoài của ông thân nhưng chắc chắn là tôi đã thừa hưởng một phần tính của ông thân và ông chú tôi về vấn đề cảm thấy rất khó chịu khi bị buộc phải làm việc gì. Tôi cũng chẳng hiểu đây là ưu điểm hoặc khuyết điểm, nhưng dù có là gì đi nữa thì chính những cảm nghĩ này cũng đã giúp tôi quyết định rất nhiều. Và giờ đây lại một lần nữa tôi quyết định dựa trên sự suy nghĩ đã thừa hưởng từ ông thân. Đây là lúc mà tôi nghĩ rằng tôi cần phải có quyết định từ giã chính trường.

Sau khi đã quyết định rõ rệt mọi sự, đầu tháng 12 tôi tường trình vấn đề thật chi tiết cho ông Thiệu. Bản tường trình tổng kết tất cả các vấn đề trong quá khứ cũng như những sự tiên liệu của tôi trong tương lai. Tôi dùng những thống kê lúc này để trình bày rằng tất cả những sự ủng hộ của Hoa Kỳ đang càng ngày càng cạn dần. Hoa Kỳ lúc này đã đặt câu hỏi về những vấn đề như liệu có nên để lại một ít quân khi rút lui hoặc liệu có nên viện trợ kinh tế cho Việt Nam hay không. Trong bản tường trình tôi nhắc lại một lần nữa những gì có lẽ đã trở thành thông lệ vào lúc này rằng mặc dầu chánh phủ Nixon vẫn còn một chánh sách ủng hộ tương đối vững vàng, một chánh phủ khác yếu hơn có lẽ đã phải buông trôi từ lâu. Nhưng rồi đây viện trợ và ngay cả đến vấn đề rút quân cũng sẽ tùy thuộc vào quốc hội Hoa Kỳ. “Chúng ta phải biết rằng, tuy tổng thống Hoa Kỳ nắm giữ quyền uy tối thượng trong tay, trên thực tế, những diễn biến chính trị vẫn thường làm ông giảm bớt rất nhiều uy quyền. Quan niệm rằng tổng thống Hoa Kỳ có thể làm được tất cả mọi điều ông muốn là một quan niệm sai lầm.” Bản tường trình của tôi tiếp tục như sau:
Trong những tháng vừa qua, vì những lý do của cả chúng ta lẫn chánh quyền Hoa Kỳ, mức độ viện trợ cho chúng ta đã suy giảm đến độ chỉ còn một giọt thừa lại mà thôi. Nếu chúng ta lý luận rằng Hoa Kỳ đang tự động rút quân và Việt Nam quả không cần đến sự viện trợ của họ nữa thì chẳng còn gì để nói.
Nhưng nếu chúng ta vẫn nghĩ rằng ít nhất Việt Nam cũng còn cần viện trợ trong một thời gian ngắn nữa thì vấn đề cố gắng giữ lại viện trợ dĩ nhiên quan trọng. Cho dù Việt Nam đồng ý hoặc không đồng ý với những kết luận của dư luận hoặc chánh phủ Hoa Kỳ (chẳng hạn như về vấn đề bầu cử đơn phương, thối nát, thiếu đoàn kết v.v…) thì Việt Nam cũng không thể làm ngơ trước những thực tế chính trị này. Việt Nam không thể làm ngơ trước những diễn biến mà chính tổng thống Hoa Kỳ cũng không thể bỏ qua…
Chúng ta phải bắt đầu một chiến dịch mới nhằm vào dân chúng Hoa Kỳ cũng như các đoàn thể chính trị để chứng tỏ rằng Việt Nam ngày nay không còn cần đến “xương máu” của Hoa Kỳ nữa mà chỉ cần viện trợ về các mặt kinh tế, quân sự. Hơn nữa, chỉ cần những viện trợ này trong một thời gian ngắn mà thôi. Mặc dù có những khuyết điểm không thể tránh khỏi của một quốc gia chậm tiến trong thời chiến tranh, người Việt Nam xứng đáng được Hoa Kỳ viện trợ. Theo tôi thì một trong những điểm quan trọng nhất của chiến dịch này là hình ảnh của một nước Việt Nam đoàn kết, trong sạch, sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm của chính mình.

Như kết luận của bài tường trình nêu ra, tôi đang cố gói ghém tâm sự của tôi hơn là phát biểu bất kỳ điều gì đặc biệt mà chính phủ Sài Gòn vẫn chưa biết. Khi đọc lại bản tường trình, tôi có thể thấy những thất vọng của tôi phản ảnh thật rõ rệt qua những danh từ nổi bật như “lỗi lầm của chúng ta”, và những đề cập không chút dấu diếm như “cuộc độc cử,” “thối nát,” “thiếu đoàn kết”. Dù sao đi nữa thì đây cũng là một bản tường trình chót tôi ném vào khoảng không. Tôi cố đưa tất cả những điều tôi trình bày vào tài liệu. Nói tóm lại thì lời khuyên cuối cùng của tôi với ông Thiệu là sự lập lại một bài học hoàn toàn đơn giản mà riêng tôi đã học hỏi được ở Hoa Thịnh Đốn nhưng ông Thiệu thì chưa. Bài học đó là: “Tổng Thống Hoa Kỳ không phải hoàn toàn có thể tự quyết. Những người xin viện trợ phải biết phóng tầm nhìn vượt qua ông để quan sát cả quốc hội, phải biết phóng tầm nhìn vượt qua quốc hội để nhìn thẳng vào dư luận dân chúng và báo chí.” Trong suốt năm năm trời tôi đã tìm đủ mọi cách để diễn tả điều này. Nhưng trong suốt giai đoạn tôi phục vụ ở Hoa Thịnh Đốn, tôi vẫn chưa học được cách phải làm thế nào để những điều tôi tường trình được ông Thiệu và các nhà lãnh đạo ở Việt Nam để ý.

Chẳng bao lâu sau, khi đã thảo xong bản tường trình cho ông Thiệu, tôi điện thoại về cho ông Nhã, nhắn rằng nếu ông Thiệu đang suy nghĩ về việc thay đổi đại sứ hoặc thay đổi chánh phủ, thì ông Thiệu cứ tự nhiên thay đổi chứ đừng nghĩ gì đến việc phải sắp đặt gì cho tôi cả. Sau một tháng yên lặng, tôi nhận được điện thoại của ông Trần Văn Lắm. Ông Lắm bảo tôi rằng chánh phủ quả thật đang có thay đổi ở một vài nhiệm sở. Tuy ông Lắm không hề nói rõ rằng tôi là một trong những người có tên trong danh sách thay đổi, nhưng ông muốn biết ý kiến của tôi về vấn đề này.

Thấy rằng việc ông Lắm điện thoại là một dấu hiệu rõ rệt, tôi lập tức soạn thảo một bức thư từ chức gửi ngay đến văn phòng ông Thiệu. Tôi nói rằng tôi đã phục vụ quá lâu và thấy rằng giờ là lúc tôi cần nghỉ ngơi để quay lại đời sống bình thường và chăm sóc gia đình, nhất là mẹ tôi giờ đã quá già. Nhiều ngày sau đó, ông Nhã điện thoại cho tôi báo rằng Tổng Thống Thiệu hiểu rõ tình thế của tôi và đồng ý nếu tôi thấy cần phải nghỉ ngơi. Hiện tại đang có rất nhiều thay đổi trong các chức vụ đại sứ và cả hai nơi Luân Đôn cũng như Canberra đều đang cần phải người mới bổ nhiệm. Liệu tôi có muốn thuyên chuyển đi một trong hai chỗ này hay chăng? Tối đó, tôi viết thư cho ông Thiệu ngỏ ý cám ơn những sự ưu đãi của ông đối với tôi, nhưng tôi đã quyết từ chức. Tôi nói với ông Thiệu lúc này đã đến lúc tôi nên trở về Sài Gòn rồi. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"