Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

33 – Hai Màn Ngoạn Mục 


Chương 33
Hai Màn Ngoạn Mục

Vào ngày 25 tháng giêng năm 1972, khi tôi đang sửa soạn để rời Hoa Thịnh Đốn thì trong một buổi nói chuyện trực tiếp trên đài truyền hình thì Tổng Thống Nixon đã công bố những hoạt động bí mật của chánh quyền ông với Bắc Việt. Những điều ông công bố đã khiến dư luận xôn xao, kinh ngạc. Riêng đối với tôi thì những điều ông công bố đã xác nhận tất cả những điều mà tôi vẫn nghe từ trước tới nay. Tổng thống Nixon tuyên bố rằng ông Kissinger đã bí mật đàm phán với Bắc Việt kể từ năm 1969. Trong suốt giai đoạn đàm phán đó đã có cả thảy 12 cuộc họp, cuộc họp lần cuối là vào ngày 13, tháng 9 năm 1971. Trong cuộc đàm phán cuối cùng, Hoa Kỳ đã gửi cho Bắc Việt một đề nghị hòa bình nhưng vẫn chưa được Bắc Việt trả lời. Trong buổi nói chuyện lần này, tổng thống Nixon lên tiếng công khai hóa những đề nghị đã gửi cho Bắc Việt trước kia. Những điều kiện trong đề nghị đó như sau: Hoa Kỳ sẽ rút quân trong vòng sáu tháng và chấp nhận quốc tế đứng ra tổ chức một cuộc bầu cử tổng thống ở Việt Nam cho phép tất cả các ứng cử viên từ “tất cả các đoàn thể chính trị” ở Việt Nam được quyền ứng cử. Ông Thiệu sẽ từ chức một tháng trước khi cuộc bầu cử bắt đầu. Bài diễn văn của Tổng Thống Nixon lần này là một ngón đòn chánh trị ngoạn mục để đánh vào cả dư luận quốc tế cũng như dư luận của các giới phản chiến.

Những tiết lộ về các cuộc đàm phàn bí mật của Hoa Kỳ với Bắc Việt trong bài diễn văn của tổng thống Nixon thật là ly kỳ và những tiết lộ về những cuộc đàm phán ở Bắc Kinh của ông Kissinger vào năm trước đây cũng ly kỳ không kém. Những tiết lộ đó đã khiến những đoàn thể phản chiến thấy mình bị hố nặng. Họ không khỏi chưng hửng khi thấy tất cả những đòi hỏi nhượng bộ của họ đã được chánh phủ Hoa Kỳ, một chánh phủ mà họ cho là sai lầm, chấp thuận từ lâu nhưng Bắc Việt vẫn hoàn toàn ngoảnh mặt.

Riêng phần tôi thì sự tuyên bố của Tổng Thống Nixon lại khiến tôi hết sức lo ngại cho tương lai Việt Nam. Thật khó ai có thể tưởng tượng được rằng ông Kissinger đã tự mình đàm phán bí mật cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam. Vào lúc này, chẳng ai biết rõ hơn tôi về việc những quyền lợi của Hoa Kỳ không còn đi đôi với sự sống còn của Việt Nam nữa. Tôi đã nhận thấy điều này kể từ khi chánh phủ Nixon bắt đầu nhậm chức. Thực ra thì việc rút quân của Hoa Kỳ và vấn đế sống còn của Việt Nam không phải là hai vấn đề hoàn toàn không thể đi đôi. Tuy thế, vấn đề đáng ngại là việc Hoa Kỳ đã tự đảm nhận trách nhiệm và tự tham gia các cuộc đàm phán như thể đây hoàn toàn là những cuộc đàm phán của riêng Hoa Kỳ. Vào đầu năm 1969, lúc chính phủ Nixon vừa mới nhậm chức, vì chần chờ và thụ động, ông Thiệu đã để mất cơ hội đóng góp vào các kế hoạch của Hoa Kỳ đối với cuộc chiến Việt Nam khi các kế hoạch này hãy còn phôi thai. Kể từ đó tổng thống Nixon và ông Kissinger đã hoàn toàn chủ động các cuộc đàm phán với Bắc Việt. Trong suốt ba năm trường, điểm nổi bật của chính sách Hoa Kỳ trong việc đàm phán là cố giữ cho Việt Nam tạm ổn định và hoàn toàn thụ động. Tôi đã biết rõ ông Thiệu không hề tham gia soạn thảo các kế hoạch do ông Kissinger đề ra, chẳng những vậy, tôi cũng không biết ông Thiệu thật sự được báo cáo chi tiết rõ rệt đến độ nào? Chỉ cần nhìn vào lề lối hành động bí mật của ông Kissinger và tính hay né tránh vấn đề của ông Thiệu tôi cũng thừa biết rằng ông Thiệu và ông Kissinger khó có thể cùng nhau bàn luận vấn đề đàm phán một cách hữu hiệu cho được.

Tôi không muốn gửi điện hỏi ông Thiệu xem ông có thật sự biết rõ việc đàm phán của Hoa Kỳ hay không. Vụ bà Anna Chenault đã dạy tôi rằng những bức điện của tôi thật sự chẳng có gì an toàn, bởi vậy, thay vì gửi điện, tôi điện thoại cho ông Nhã. Nhưng ông Nhã lại có vẻ không muốn bàn bạc gì. Ông Nhã không hề nói rõ là ông Thiệu có hoàn toàn hài lòng về những cuộc đàm phán bí mật hay không mà chỉ nói vắn tắt rằng “chúng ta sẽ bàn bạc chuyện này sau.”

Một thời gian ngắn sau khi Tổng Thống Nixon đọc diễn văn, đại sứ Bunker trở về Hoa Thịnh Đốn để tham khảo ý kiến. Như thường lệ, tôi mời ông Bunker đến tòa đại sứ để tôi có dịp nói chuyện với ông. Với tư cách là đại sứ của Hoa Kỳ ở Sài Gòn, ông Bunker thực sự đã là người trung gian giữa ông Kissinger và ông Thiệu. Tôi muốn gặp ông Bunker để có thể biết rõ phản ứng của ông Thiệu. Khi chúng tôi gặp nhau, ông Bunker nói với tôi rằng: “Như anh cũng biết, thăm dò phản ứng của ông Thiệu nào phải là chuyện dễ dàng.” Ông Bunker nói rằng ông có chuyển tất cả những bản báo cáo của ông Kissinger cho ông Thiệu nhưng ông chẳng biết phản ứng của ông Thiệu thực sự ra sao.

Vào cuối tháng 2, thì tin tức về mọi việc bắt đầu sáng tỏ đôi phần khi ông Nhã đến Hoa Kỳ. Ông Nhã cho biết rằng tuy có được báo cáo, những tin tức báo cáo ông Thiệu nhận được rất là sơ sài. Thường thì ông Kissinger chỉ gởi một bản báo cáo rất ngắn cho ông Bunker để ông Bunker chuyển thẳng cho ông Thiệu. Ông Thiệu cũng được hỏi ý kiến về một số những điều tổng quát, nhưng không hề biết rõ chi tiết như ông mong mỏi. Đương nhiên ông Thiệu có rất ít cơ hội để bày tỏ quan niệm riêng. Ông đã gượng gạo đồng ý những vấn đề như vấn đề quốc tế sẽ đứng ra tổ chức cuộc bầu cử và vấn đề ông phải tự động từ chức tổng thống. Ông Thiệu chấp nhận những đòi hỏi của Hoa Kỳ vì hai lý do. Thứ nhất: Ông Thiệu cho rằng Bắc Việt sẽ không bao giờ chấp nhận những đề nghị của Hoa Kỳ. Thứ hai: Ông Thiệu muốn tránh việc phải đương đầu với tổng thống Nixon. Nói chung thì những diễn biến trong giai đoạn này là một triệu chứng tôi đã có dịp quan sát kể từ năm 1965. Kể từ khi Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp, lúc nào họ cũng nắm phần quyết định các chính sách đi đôi với vấn đề sinh tử của Việt Nam nhưng lại quyết định dựa trên những quyền lợi của Hoa Kỳ. Khi quyết định những chính sách có liên quan đến sự sống còn của Việt Nam Hoa Kỳ thường chẳng để ý gì đến chánh phủ Việt Nam, hoặc giả nếu có để ý đi chăng nữa thì họ cũng chỉ là để ý một cách rất sơ sài và hời hợt.

Thái độ làm việc độc đoán của Hoa Kỳ đã dẫn đến một tình trạng bế tắc trong sự cộng tác của cả hai quốc gia Mỹ, Việt. Hậu quả của những thái độ đó là do những thất bại của chánh phủ Hoa Kỳ trên bình diện luân lý đi đôi cùng với những thất bại của Việt Nam vì thiếu khả năng lãnh đạo, thụ động, và không đủ khả năng để nhận lãnh trách nhiệm quốc gia. Dĩ nhiên một trong những lý do chính khiến Hoa Kỳ có thái độ độc đoán khi cộng tác với người Việt cũng là do những đúc kết dị biệt giữa lịch sử Việt Nam và Hoa Kỳ. Nhưng dầu gì đi nữa thì tôi vẫn qui lý do chính vào vai trò của những người lãnh đạo. Những lý do dó là: Bản tánh thích bí mật, thích mưu mẹo và vận động của ông Kissinger; Bản tính quanh co, lưỡng lự và hay tránh né vấn đề của ông Thiệu.

Vì gần gũi với cả hai phía, tôi đã có dịp quan sát sự liên hệ này kéo dài trong suốt những năm qua. Chẳng những thế, tôi còn nhìn rõ cả sự bất lực của tôi khi phải đối phó với vấn đề này. Khi viết thư từ chức, tôi đã nghĩ rằng ít nhất thì sau khi từ chức tôi cũng tránh được phần nào những thất vọng đi đôi với công việc. Nhưng lạ thay, dường như vấn đề từ chức của tôi vẫn chưa được Sài Gòn để ý. Tôi biết Sài Gòn chắc chắn đã nhận được thư từ chức của tôi rồi, nhưng chẳng hiểu sao chính phủ Sài Gòn vẫn âm thầm yên lặng, chẳng hề gửi lại cho tôi một chữ nói rằng ngày nào là ngày tôi chuyển nhiệm hoặc tỏ vẻ nhận biết yêu cầu từ chức của tôi.

Hậu quả là cho đến cuối tháng 3 năm 1971, tôi vẫn còn làm việc, vẫn còn loay hoay tìm hiểu tin tức của cả Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn. Khi tin tức về những cuộc đàm phán bí mật được công bố, tôi lại càng cảm thấy lo lắng vì cách làm việc của ông Kissinger. Tôi không biết chẳng hiểu phải tìm cách nào để có thể tiên liệu cho đúng được các chiều hướng và quyết định của chính phủ Hoa Kỳ. Để tìm hiểu các vấn đề này, tôi đến gặp các phụ tá của ông Kissinger như các ông Holdridge, Negroponte và nhà báo kỳ cựu Marvin Kalb của đài CBS chuyên về các vấn đề ngoại giao. Ông Marvin Kalb là người đi sát với ông Kissinger và hiểu rõ cách làm việc của ông Kissinger. Tôi muốn hiểu rõ quan niệm “uyển chuyển,” một danh từ tôi đã nghe ông Kissinger dùng trong cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa tôi và ông vào năm 1969. Lúc này danh từ “Uyển Chuyển” đã mang nhiều sắc thái của một điềm bất tường.

Trong khi những điềm bất tường về mặt chính trị chỉ mới manh nha thì những đe dọa về mặt quân sự lại rõ rệt hơn. Tuy vào ngày 13 tháng 9 năm 1972, Bắc Việt vẫn còn đàm phán mà vào tháng 10 họ đã chấm dứt các cuộc đàm phán. Lúc này đang là năm 1972, năm bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ và dĩ nhiên Việt Cộng vẫn còn nhớ những kết quả họ đã gặt hái được vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 trong lần bầu cử tổng thống Hoa Kỳ trước đây. Ông Robert Thompson, một chuyên viên dầy kinh nghiệm chống du kích đã khẳng định rằng Việt Cộng sẽ mở cuộc tấn công trước tháng 10 để có thể lợi dụng dư luận trong giai đoạn Hoa Kỳ tiến hành cuộc bầu cử năm 1972. Ngoài những dự đoán của các chuyên gia, còn một yếu tố khác cho thấy Việt Cộng sắp sửa tấn công là yếu tố thời tiết. Thời tiết ở Việt Nam lúc này đang bắt đầu chuyển sang mùa khô. Tất cả những tin tức tình báo đều cho thấy Bắc Việt đã sửa soạn từ nhiều tháng trước. Vì tháng 7 là tháng thời tiết chuyển mùa nên trễ lắm là vào tháng 6 bắt buộc miền Bắc sẽ phải rục rịch. Lúc này đã vào giữa tháng 3. Thời khóa biểu của tôi đặc nghịt các cuộc họp với Bộ Ngoại Giao và những nhân viên quân sự. -Ông Sullivan, ông Wesmoreland, ông Laird, và nhiều tướng lãnh khác đang điều khiển chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh. Lúc này, quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam đã giảm đến độ sự hiện diện của Hoa Kỳ gần như không đáng kể. Hơn nữa, Hoa Kỳ không còn giữ vai trò lãnh đạo quân sự. Vì thế nên, những trận đụng độ lúc này sẽ là những đụng độ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản. Ở thời điểm này thì Đàm Phán, nguyên là phần đầu của chiến thuật lưỡng đầu, đã thất bại hoàn toàn. Giờ là lúc thử thách của phần hai. Kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh sắp bước vào giai đoạn thử thách. Một cuộc đụng độ lớn sắp bắt đầu. Câu hỏi chỉ còn là: Cuộc đụng độ sẽ xảy ra ở đâu và vào lúc nào. Vào ngày 30 tháng 3, quân đội Bắc Việt vượt qua vùng phi quân sự tấn công vào thành phố Quảng Trị. Lúc đầu chưa ai có thể xác định đây là một phần của cuộc tổng tấn công hay chỉ là một cuộc công kích dò dẫm. Nhưng trong vòng một tuần cuộc tấn công thứ hai bắt đầu từ biên giới Cam Bốt tấn công nhắm vào An Lộc, phía bắc Sài Gòn.

Khi Quảng Trị và An Lộc bị tấn công thì lúc nào tôi cũng gần như gắn liền với máy điện thoại. Tôi nói chuyện với chánh phủ Sài Gòn, với các nhân viên của tôi ở Ngũ Giác Đài và Bộ Ngoại Giao. Tôi cố theo dõi An Lộc trong những trận giao tranh ngày càng lan rộng. Tuy tôi đã đoán trước rằng thế nào Việt Cộng cũng tấn công, nhưng tôi quả thật chưa thể tiên đoán trước được tầm mức rộng lớn và dữ dội của những cuộc tấn công lúc này. Cả các đồng nghiệp của tôi ở Bộ Ngoại Giao và Ngũ Giác Đài hình như cũng kinh ngạc chẳng kém gì tôi. Vào tuần lễ thứ hai, đã có 12 sư đoàn Bắc Việt nhập trận. Một số quân khổng lồ từ Bắc Việt đang tiến vào xâm lược Việt Nam.

Giờ phút thử thách của quân đội Việt Nam làm tôi lo lắng. Một mặt, tôi vô cùng tin tưởng các đơn vị thiện chiến như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động của quân đội Việt Nam. Nhưng một mặt khác thì lúc này, sự hỗ trợ của quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn mất hẳn. Tôi theo sát những diễn biến ở chiến trường và những chi tiết về sư đoàn 3 đang bị tấn công và cảnh quân đội Bắc Việt tiến dần tới vùng thủ đô Quảng Trị. Nhưng dù Tổng Thống Nixon đã áp dụng kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh, ông vẫn nhất định không bỏ mặc những cuộc tấn công của Bắc Việt. Vào ngày 5 tháng 4, phi cơ Hoa Kỳ dội bom vào những nơi tiếp vận của Bắc Việt, trong khi những hải quân và không quân của Hoa Kỳ sửa soạn nhập trận.

Vào ngày 15 tháng 4, khi những cuộc tấn công của Bắc Việt phát động toàn lực thì máy bay B-52 đã dội bom xuống Hà Nội và Hải Phòng. Đây là lần đầu tiên trong suốt bốn năm những thành phố như Hà Nội và Hải Phòng bị tấn công. Đối với tổng thống Nixon và ông Kissinger thì những cuộc tấn công này chứng tỏ sự quyết tâm của Hoa Kỳ. Nhưng giới phản chiến ở Hoa Kỳ lại có thái độ khác hẳn. Sinh viên Hoa Kỳ phản ứng tức thời. Biểu tình bùng ra khắp mọi nơi trên toàn quốc, một cuộc biểu tình trong khuôn viên đại học đã khiến hàng trăm sinh viên chống đối bị bắt. Tại thượng viện, Ủy ban Ngoại Giao của Thượng Nghị Sĩ Fullbright gọi Bộ trưởng Quốc Phòng Laird và Ngoại Trưởng Rogers ra điều trần trước quốc hội. Cuộc điều trần trước máy truyền hình diễn ra chẳng khác nào một cuộc đụng độ giữa hai vị hai vị Bộ trưởng và các Thượng Nghị Sĩ phản chiến.

Lúc này, cuộc chiến đã bước vào giai đoạn quyết định. Cộng sản đang thu thập tất cả mọi lực lượng tấn công mãnh liệt vào Miền Nam. Về phía Hoa Kỳ thì tổng thống Nixon đã cho lệnh các lực lượng hải quân và không quân của Hoa Kỳ tự do tấn công bất chấp các cuộc biểu tình hoặc sự chống đối của quốc hội Hoa Kỳ. Những cuộc biểu tình diễn ra ngày càng ồ ạt ở Hoa Thịnh Đốn đã khiến những quan sát viên của Hoa Kỳ hết sức theo dõi những trận đụng độ ở Việt Nam. Câu hỏi đơn giản của họ là: Liệu các lực lượng quân đội Việt Nam cùng với sự yểm trợ của Hoa Kỳ, có đủ sức bảo vệ Việt Nam không? Hay là những chính sách trong gần suốt 20 năm của Hoa Kỳ sẽ tiêu tan thành mây khói cùng với sự sụp đổ của Việt Nam?

Vào trung tuần tháng 4, vấn đề vẫn chưa hoàn toàn ngã ngũ. Vào ngày 21, ông Alexander Haig từ Việt Nam trở về mang theo những tin tức rõ rệt nhất. Tối đó tôi điện cho ông Thiệu: “Ông Haig cho rằng tinh thần quân đội Việt Nam rất cao. Trừ vài trường hợp lẻ tẻ, quân đội Việt Nam đã chiến đấu rất hữu hiệu. Ông Haig cũng đồng ý với những nhận định tình hình của chúng ta rằng các lực lượng Việt Nam vẫn còn có thể cầm cự trong một khoảng thời gian ngắn nữa. Việc duy nhất khiến ông Haig lo ngại là sự tổn thất của quân đội Việt Nam có thể khiến tinh thần chiến đấu của các binh sĩ Việt Nam suy giảm. Dư luận Hoa Kỳ cho rằng câu trả lời về sức mạnh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn phụ thuộc vào những trận đụng độ của quân đội hai miền Nam, Bắc và những phản ứng của quân đội Miền Nam Việt Nam.”

Vào ngày 1 tháng 5, mạn bắc của Quảng Trị bị hai sư đoàn 304, 308 và xe tăng yểm trợ của Bắc Việt đánh chiếm. Sư đoàn 3 Bộ Binh của Việt Nam tan rã dưới áp lực của cuộc tấn công này. Khi Quảng Trị mất, những toán tàn quân của sư đoàn 3 và dân chúng Quảng Trị đã ùa ra đường phố để chạy tản cư. Trên nhiều đoạn đường tản cư nằm trong tầm pháo binh của Việt Cộng những đoàn tản cư đã bị dội pháo. Cả Huế lẫn Kom Tum đều bị đe dọa. Cách Sài Gòn khoảng sáu mươi dặm, gần biên giới Cam Bốt, lúc này An Lộc cũng đang bị bao vây.

Sau ngày mất Quảng Trị, Kissinger đến họp cùng Lê Đức Thọ ở Ba Lê. Đây là cuộc họp đầu tiên trong suốt 8 tháng. Sau này Kissinger viết lại rằng cung cách của Lê Đức Thọ thật là kiêu ngạo. Thọ đã cả quyết rằng Bắc Việt chắc chắn sẽ toàn thắng. Ít lâu sau tình thế cho thấy sự lạc quan của Thọ hãy còn quá sớm. Tuy những đơn vị của Việt Nam Cộng Hòa đã ngỡ ngàng vào lúc đầu vì tầm mức lớn rộng của cuộc tấn công cùng những xe tăng, đại pháo của Bắc Việt, chẳng bao lâu sau họ đã bắt đầu chấn chỉnh, chiến đấu mãnh liệt để giữ từng tấc đất. Trên tất cả các mặt trận Bắc Việt tấn công, những bước tấn của Bắc Việt đều bị chặn đứng. Quân đội Miền Nam Việt Nam đã anh dũng chiến đấu dưới sự yểm trợ của không quân Hoa Ký.

Trong ba mặt trận kể trên, An Lộc là nơi đẫm máu và bi thảm nhất. Nhìn dưới một khía cạnh nào đó thì đây chính là một trận đánh điển hình cho tất cả những trận đánh khác đang diễn ra khắp mọi nơi trong toàn lãnh thổ Miền Nam Việt Nam. Thị Trấn An Lộc nằm ở giữa quốc lộ 13 và là một khu vực chỉ cách những căn cứ Việt Cộng ở Cam Bốt khoảng 15 dặm. Bên trên An Lộc là những triền thung lũng và những đồn điền cao su. Vào ngày 7 tháng 4 và ngày 9 tháng 7, An Lộc bị bao vây trong một chiến trận chẳng khác gì cuộc bao vây Stalingrad.

Tại An Lộc, Tướng Lê Văn Hưng có khoảng 6000 quân, bao gồm phần nhiều địa phương quân cùng với một số đơn vị của sư đoàn 5. Trong khi đó Việt Cộng đã tấn công ông bằng các sư đoàn 5, 7, 9, sư đoàn pháo binh 75 và ba tiểu đoàn thiết giáp. Tổng cộng số quân Bắc Việt dùng tấn công vào An Lộc kể cả các đơn vị chặn đường là 28,000. Vào ngày 11 tháng 4, Việt Cộng phá tan những tiền đồn phía trước An Lộc. Vào ngày 12 quân đội Bắc Việt vây kín thành phố An Lộc.

Ngày 13-7, sau khi đã pháo kích kịch liệt, đợt tấn công đầu của Việt Cộng tấn công thẳng vào các đơn vị của Miền Nam Việt Nam đang bị bao vây. Cuộc tấn công ngừng lại khi đã chiếm được một phần ba thành phố An Lộc. Hai ngày sau một cuộc tổng tấn công khác lại bắt đầu. Lần này Việt Cộng tiến sâu hơn, cuộc đụng độ diễn ra ngay tại những ngôi nhà trong thành phố cho đến khi Việt Cộng bị đẩy lui bằng những trận dội bom gần sát nơi Bộ Tư Lệnh của tướng Hưng.

Những người lính tử thủ và những người dân An Lộc lúc này chỉ sống nhờ những thực phẩm, thuốc men và vũ khí tiếp liệu bằng dù. Hơn hai phần ba những phần tiếp liệu rơi vào phía sau hàng tiền tuyến của quân đội Bắc Việt khi những máy bay tiếp vận C-130 phải di chuyển để tránh né những loạt tác xạ của súng phòng không. Tuy vòng đai tự vệ của quân đội An Lộc ngày càng thu hẹp, họ đã chiến đấu nhiều tuần trong tình trạng cô thế, thiếu binh sĩ, thiếu vũ khí và đã đẩy lui được những đoàn bộ binh và thiết giáp của Bắc Việt.

Một tháng sau, sư đoàn 5 và sư đoàn 9 Việt Cộng lại đồng loạt tấn công các mặt bắc, đông bắc, nam và tây. Rồi qua cửa phía Tây An Lộc, trung đoàn 272 của Việt Cộng tấn công thẳng vào những binh lính tự vệ Việt Nam. Vào lúc 10 giờ sáng, Việt Cộng đã chiếm những tòa Bin Đinh công cộng và chỉ còn cách Bộ Tư Lệnh của Tướng Hưng khoảng 150 thước. Ở mặt Bắc, Việt Cộng tấn công chọc thủng phòng tuyến của quân đội Việt Nam và vào gần đến trung tâm thành phố. Tại mặt Nam, các lực lượng Việt Cộng đang cố tiến qua những hàng rào tự vệ của quân lính Việt Nam lúc này đã kiệt sức và bị chấn động nhiều vì bom.

Rạng đông ngày 12 tháng 5, hai sư đoàn 5 và 9 của Việt Cộng lại tấn công vào trung tâm thành phố. Nhưng những binh sĩ Miền Nam cùng những phi công yểm trợ của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ vẫn anh dũng chiến đấu. Oanh tạc cơ yểm trợ cùng những lằn đạn gần kiệt của quân đội Việt Nam đã đánh bật trả lại những cuộc tấn công hung hãn của Việt Cộng. Vào lúc cuối ngày, tình thế cho thấy quân đội Việt Cộng đã mất cả tinh thần lẫn nhuệ khí. Sau đợt tấn công cuối cùng vào An Lộc Việt Cộng đã dùng cạn khả năng tấn công.

Những ngày sau đó sư đoàn 5 Bắc Việt tháo lui để nghỉ ngơi và bù đắp những tổn thất trong lúc tấn công. Tuy thế sư đoàn 9 của Bắc Việt vẫn đóng quân bao vây thành phố và tấn công vào trung tâm An Lộc bằng những đơn vị nhỏ. Lúc này sự tự vệ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở An Lộc quả đã vượt trên tầm ước định của Bắc Việt. Vào cuối tháng 5, khi phần lớn các súng cao xạ bắn máy bay của Bắc Việt đã bị triệt hạ, trực thăng và máy bay chuyển vận đã có thể tới lui thường xuyên hơn. Cuối cùng, vào ngày 9 tháng 7, quân tiếp viện của sư đoàn 21 Việt Nam cùng những đơn vị khác chọc thủng vòng vây của sư đoàn 7 Bắc Việt dọc theo quốc lộ 13 và liên lạc được với những binh sĩ đang tử thủ ở An Lộc. Trong cuộc tấn công để chọc thủng vòng vây của Bắc Việt ở An Lộc, các đơn vị của Việt Nam Cộng Hòa đã đụng độ với sư đoàn 7 của Việt Cộng suốt hai tháng trường. Sau cuộc tấn công đó, quân đội Việt Nam Cộng Hòa thiệt hại mất 4000 quân, trong khi Bắc Việt thiệt hại 6000 quân.

An Lộc không phải là một chiến thắng có tính cách chiến thuật mà là một sự thành công thể hiện được sự trưởng thành của quân đội Việt Nam qua kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh. Mặc dầu kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh vẫn còn nhiều khuyết điểm, nhưng nói chung thì kế hoạch này vẫn thành công đáng kể. Chiến thắng An Lộc đã chứng tỏ khả năng chiến đấu kiêu hùng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Qua chiến thắng đó, quân đội Việt Nam đã chứng tỏ rằng họ có thể đẩy lui được những cuộc tấn công của các lực lượng Cộng Sản được trang bị đầy đủ hơn hẳn về mọi mặt. Chiến thắng An Lộc còn cho thấy rằng nếu có các lực lượng không quân yểm trợ, thì quân đội Việt Nam sẽ thừa sức chu toàn những nhiệm vụ được giao phó.

Đợt tấn công cuối cùng của Cộng Sản vào An Lộc bị đẩy lui vào ngày 12 tháng 5. Tuy Quảng Trị bị lọt vào tay Bắc Việt, nhưng quân đội Bắc Việt vẫn không đủ khả năng để tấn công vào Huế. Và cả những cuộc tấn công của Bắc Việt vào cao nguyên cũng thất bại. Khi tình thế đã rõ rệt rằng Miền Nam Việt Nam vẫn đứng vững sau cuộc tổng tấn công mùa xuân thì tôi bắt đầu chuẫn bị để từ chức. Vào cuối tháng 5, tôi bắt đầu sửa soạn từ giã các bạn bè trong giới ngoại giao, và vào đầu tháng 6, tôi đến tòa Bạch Ốc để chào tổng thống Nixon. Tôi và nhà tôi cùng ăn bữa trưa giã từ với ông bà Averell Harriman rồi đến dự một bữa trưa giã từ khác với ông bà George Aiken. Tôi gặp tất cả những bạn bè và đồng nghiệp và những cộng sự viên đã cùng làm việc với tôi trong suốt bao năm: Ông Rogers, ông Westmoreland, ông Laird, ông William Sullivan, ông Alexis Johnson, ông Alexander Haig, các nhân viên phụ tá của ông Kissinger như các ông John Holdridge và John Negroponte, và các bạn bè trong quốc hội như Thượng Nghị Sĩ Tower và dân biểu Clement Zablocki.

Buổi lễ giã từ thật là bịn rịn đối với rất nhiều người. Tôi cảm thấy dường như tôi đã ở Hoa Thịnh Đốn lâu lắm rồi. Dĩ nhiên là tôi đã tự ý rời Hoa Thịnh Đốn. Và vì thế tôi cho rằng tôi đã sửa soạn kỹ lưỡng trước khi giã từ. Tuy vậy, ở những phút cuối, khi chia tay bạn bè và những cộng sự viên tận tụy đã cùng làm việc với tôi trong nhiều năm, tôi cũng vẫn cảm thấy có đôi phần xao xuyến.

Từ phi trường Dulles International tôi và gia đình bay qua Ba Lê. Chúng tôi ở lại Ba Lê một tuần rồi mướn một chiếc xe Peugeot, cả gia đình chen chúc chạy thẳng route Napoléon tới Nice, Cannes và Grenoble, rồi vào St. Gervais, một tỉnh nhỏ nằm cạnh biên giới Thụy Sĩ, nơi chúng tôi đã từng trú ngụ suốt một năm khi nhà tôi phải đi dưỡng bệnh. Tại đây chúng tôi ghé thăm những người đã từng săn sóc nhà tôi hai mươi năm về trước, rồi đi thẳng sang Ý Đại Lợi.

Chuyến đi này quả thật là một chuyến du hành khó quên. Chúng tôi đến Geneva, vượt những ngọn núi Alps ở Ý Đại Lợi, vào thành phố Venice huyền thoại ở Áo và đi qua những nhà thờ sáng chói của thành phố Florence diễm lệ. Trong chuyến đi đó, chúng tôi hòa mình vào với những toán du khách khác để thưởng thức những cảnh đẹp xung quanh. Đôi khi chúng tôi chẳng còn nhớ rõ là mình đang ở đâu nữa. Tôi cảm thấy gia đình tôi lúc này chẳng khác nào một gia đình người Nhật đang trên đường du ngoạn.

Sau hai tháng du ngoạn du ngoạn, chúng tôi trở lại Ba Lê để sửa soạn cho chuyến bay về Sài Gòn. Lúc này là giữa tháng 8. Tôi vẫn chưa biết rằng Kissinger cùng Lê Đức Thọ đã tiếp tục những cuộc đàm phán bí mật. Tôi cũng chưa biết rằng hai bên đã hiểu rõ sức mạnh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa sau cuộc Tổng Tấn Công Mùa Xuân và đã bắt đầu thảo luận những vấn đề tổng quát của kế hoạch đàm phán.

Tạm thời những biến chuyển động trời này vẫn còn nằm ngoài tầm hiểu biết của tôi. Tuy tôi đã trở về với bầu không khí chính trị sôi sục của Sài Gòn, nhưng lúc này tôi chỉ là một người ngoại cuộc. Tôi bắt đầu đến tòa soạn Saigon Post, tìm cách ghép mình vào kỷ luật làm việc hàng ngày của tòa báo. Tôi cũng đã bắt đầu sắp xếp để cho ra một tờ báo văn học nghệ thuật mà tôi đã nghĩ đến lúc trước. Tôi thu xếp các vấn đề tài chánh, mướn chủ bút và các văn sĩ và bắt đầu cho ra một tờ báo văn học nghệ thuật mà chúng tôi đặt tên là Gió Mới.

Dĩ nhiên là khi tôi quay lại thì Sài Gòn và cảm tưởng của tôi đối với đời sống Sài Gòn vẫn chẳng có gì thay đổi. Tôi lại bắt đầu chú tâm lắng nghe những diễn biến trong bầu không khí sinh hoạt của thành phố. Vì chiến cuộc ngày càng giảm dần nên những đa số những bạn bè tôi ở trong giới quân sự đều có vẻ phấn khởi hoặc ít ra thì họ cũng rất lạc quan. Họ đã nhiều lần bàn luận về trận đánh anh dũng bảo vệ An Lộc và họ cho rằng nếu đụng độ thực sự xảy ra thì Việt Nam có thể đối phó được với Bắc Việt. Tuy nhiên vấn đề đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt vẫn làm mọi người lo lăng. Ông Kissinger vừa đến Sài Gòn. Chuyến đi của ông cho thấy vấn đề quân sự đã tạm lắng xuống để nhường chỗ cho cho những cuộc đàm phán trên trường Ngoại Giao. Gần như ai cũng biết rằng rồi đây Kissinger và Lê Đức Thọ sẽ cùng đi đến một kết luận nhưng kết luận đó ra sao thì lại chẳng ai có thể đoán trước được.

Vào đầu tháng 9-1972, tôi đến dinh độc lập thăm ông Thiệu. Cuộc gặp gỡ hoàn toàn vui vẻ với những nụ cười, những cái bắt tay và những câu chuyện xã giao. Cả hai chúng tôi đều tránh nói đến chuyện chính trị. Trong những tháng kế tiếp sau đó, ông Thiệu lại nhiều lần mời tôi và nhà tôi đến dự những bữa tiệc vừa xã giao nhưng cũng vừa chính trị của ông. Có lẽ ông Thiệu đã cố dùng những buổi tiệc này để xoa dịu những sự khó chịu giữa chúng tôi trong quá khứ.

Vào giữa tháng 10, người thay thế tôi ở Hoa Thịnh Đốn là ông Trần Kim Phượng trở về Sài Gòn để sửa soạn cho cuộc gặp gỡ của ông Thiệu và Kissinger vào ngày 19-10. Trong thời gian ông Phượng ở Việt Nam, thì chúng tôi vẫn thường xuyên gặp nhau. Qua ông Phượng tôi biết rằng Kissinger và Lê Đức Thọ đã đạt được một thỏa hiệp. Kissinger đến Sài Gòn lần này là để tìm cách thuyết phục ông Thiệu đồng ý.

Nếu chỉ nói riêng về việc đàm phán thì ý kiến của ông Phượng cũng trùng đúng với ý kiến của tôi. Ý kiến đó là: Hoa Kỳ đang tìm mọi cách để rút ra khỏi Việt Nam. Vấn đề chính của họ là làm thế nào để đạt được sự thỏa thuận của Bắc Việt. Lúc này tình thế cho thấy Bắc Việt đã đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của tổng thống Nixon và ông Kissinger: Trao trả tù binh và gián tiếp nhìn nhận chánh phủ Miền Nam Việt Nam. Để đổi lại, Hoa Kỳ sẽ rút quân toàn bộ, không để lại dù chỉ là những số quân tối thiểu như ở Đại Hàn trước đây. Hơn nữa, Hoa Kỳ cũng không bắt buộc Bắc Việt phải rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi cùng nghĩ rằng thế nào Hoa Kỳ cũng sẽ chấp nhận. Dĩ nhiên, ông Thiệu sẽ cực lực phản đối những vấn đề đã được Hoa Kỳ thỏa thuận. Sự phản đối của ông Thiệu có thể sẽ đưa đến những tình trạng khó khăn. Tuy thế, cả hai chúng tôi đều biết rằng rồi đây ông Thiệu cũng sẽ phải đầu hàng vì những áp lực của Hoa Kỳ.

Khi bản dự thảo của hiệp định Ba Lê được công bố, ông Thiệu chẳng những chỉ phản đối mà còn tỏ vẻ phẫn nộ về nhiều điều khoản trong bản thỏa hiệp. Tin đồn càng ngày lan rộng về việc ông Thiệu không được thông báo gì về những điều đã được thỏa thuận giữa Kissinger và Lê Đức Thọ trong giai đoạn đàm phán cuối cùng. Dĩ nhiên ông Thiệu khó thể chấp nhận việc Kissinger đưa ra những sự đã rồi, nhất là trong một bản dự thảo đầy dẫy những thiếu sót và trước sau bất nhất như bản dự thảo của Kissinger và Lê Đức Thọ . Một trong những điểm khó thể chấp nhận là vấn đề bản dự thảo đã đề cập đến “ba quốc gia” Đông Dương tức là Việt Nam, Lào, Cam Bốt và chỉ đề cập đến một -chứ không phải hai- nước Việt Nam. Vào ngày 23 tháng 10, khi ông Kissinger rời Sài Gòn thì dư luận đồn rằng ông Thiệu đã bác bỏ những thỏa hiệp mà ông Kissinger đã điều đình. Ngày 24, ông Thiệu lên tiếng phản đối trên đài phát thanh, chính thức tuyên bố ông không chấp nhận bản dự thảo thỏa hiệp. Ông Thiệu nói rằng ông không chấp nhận bất kỳ một hình thức liên hiệp nào cả và không đồng ý về việc Hoa Kỳ cho phép Hà Nội vẫn được đóng quân trong lãnh thổ Miền Nam Việt Nam. Ông đưa ra đề nghị đàm phán trực tiếp giữa Sài Gòn và Hà Nội cũng như đàm phán trực tiếp giữa Sài Gòn và Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời của Việt Cộng.

Sau bài diễn văn của ông Thiệu, Sài Gòn lại xôn xao bàn luận về những áp lực của Hoa Kỳ cũng như về mức độ chịu đựng của ông Thiệu. Thái độ cứng rắn của ông Thiệu được dân chúng ủng hộ. Có lẽ đây là phản ứng tự nhiên của một quốc gia nhỏ bé phẫn hận trước những hành động của một đồng minh khổng lồ. Tuy thế, đây chỉ là những phản ứng ban đầu. Chẳng bao lâu sau tình thế cho thấy ông Thiệu không thể tiếp tục chống đối và đã bị buộc phải chấp nhận bản dự thảo thỏa hiệp của Hoa Kỳ và Bắc Việt. Sự thể cho thấy chánh phủ của ông Thiệu quả thật không thể chịu đựng nổi những sự mất mát lớn lao như mất tất cả những sự ủng hộ của Hoa Kỳ.

Trong tháng 10, tôi và ông Hoàng Đức Nhã gặp nhau thường xuyên hơn. Đây là một trong những giai đoạn khó khăn cho ông Nhã và ông Thiệu. Chánh phủ Việt Nam đã đưa cho ông Kissinger một bản liệt kê gồm 69 điều khoản cần thay đổi trong bản dự thảo thỏa hiệp mà ông Kissinger đã ký kết với Hà Nội. Tuy Kissinger hứa sẽ cố gắng hết sức, mọi người đều thấy rõ Lê Đức Thọ khó thể đồng ý với những điều khoản chính mà chánh phủ Việt Nam yêu cầu, nhất là vấn đề đòi hỏi Hà Nội phải rút quân. Đây đúng là một giai đoạn thử thách của ông Thiệu. Trong giai đoạn này ông Thiệu đã cố gắng đẩy Hoa Kỳ đi vào con đường ông mong mỏi. Riêng về phía Hoa Kỳ thì đây chính là giai đoạn mà họ cho là cần phải đe dọa ông Thiệu. Chánh quyền Hoa Kỳ đã đe dọa rằng nếu ông Thiệu không chịu ký kết thì Hoa Kỳ sẽ cắt đứt tất cả mọi viện trợ bất kể đến vấn đề sinh tử của Việt Nam. Vào ngày 6 tháng 10, tổng thống Nixon đã viết một bức thư nhắc nhở ông Thiệu về trường hợp của ông Ngô Đình Diệm vào năm 1963.

Riêng đối với ông Kissinger thì phản ứng của ông Thiệu là một sự kiện bất ngờ và đầy cay đắng. Ngay từ lúc đầu tiên ông Kissinger đã xem vai trò của chánh phủ Việt Nam trong các cuộc đàm phán chỉ là vai trò phụ. Chính vì vậy nên ông Kissinger đã cùng soạn thảo mọi việc với tổng thống Nixon và cố tránh tham khảo ý kiến với chúng tôi ít chừng nào hay chừng nấy. Khi Hoa Kỳ quyết định rút lui thì giới lãnh đạo Hoa Kỳ cũng quyết định một cách độc đoán chẳng khác gì chẳng khác gì khi họ tự ý nhập cuộc hoặc tự ý điều động cuộc chiến Việt Nam trong thời gian họ can thiệp. Trong khi đó, về phía Việt Nam thì vì không muốn phải đối đầu với Hoa Kỳ và vì những đe dọa bất an, ông Thiệu đã đóng trọn vai trò thụ động như Hoa Kỳ mong mỏi. Ông đã đồng ý -hoặc tỏ vẻ đồng ý- với tất cả những chính sách và đề nghị do Hoa Kỳ đưa ra. Thực ra thì những cách đối xử của Hoa Kỳ đã khiến ông Thiệu vô cùng phẫn uất. Tuy thế, ông vẫn cố nén sự phẫn uất vì cho rằng Bắc Việt sẽ chẳng bao giờ chấp thuận những điều khoản do Hoa Kỳ đưa ra.

Thế mà giờ đây, sau suốt bốn năm ngoan cố, Lê Đức Thọ đã bất ngờ đổi thái độ. Và khi Bắc Việt thay đổi thái độ thì việc gì phải đến đã đến. Từ trước đến nay ông Kissinger vẫn chưa bao giờ coi ông Thiệu là bạn cùng cộng tác nên vào giữa lúc ông đang có bản hòa ước trong tay, ông Kissinger chưa hề chuẩn bị đủ để đối phó với những thái độ bất ngờ của ông Thiệu. Trong khi đó, đối với ông Thiệu thì bản dự thảo thỏa hiệp thật chẳng khác nào một tờ giấy nợ bất ngờ tổng kết tất cả những lỗi lầm, thiếu sót ông đã bỏ qua khi đánh mất cơ hội hợp tác với Hoa Kỳ. Sau tất cả những năm tránh né và đồng ý gượng gạo, giờ đây ông Thiệu phải chấp nhận một bản hiệp định mà ông cho là bản hiệp định khai tử Việt Nam.

Những đàm phán giữa ông Kissinger và Lê Đức Thọ tiếp tục ở Ba Lê vào ngày 20 tháng 10. Hôm đó, Kissinger đem quà tặng cho hai đại diện đàm phán Bắc Việt: Một quyển sách chụp hình đại học Harvard cho Lê Đức Thọ và một đầu ngựa bằng Pha Lê cho Xuân Thủy. Sau đó, ông đưa ra 69 điều tu chỉnh và bổ túc của Việt Nam. Tuy đã có nhiều pha đàm phán thực sự, chẳng bao lâu sau Hoa Kỳ đã thấy chiến thuật đàm phán của Bắc Việt là lửng lơ, không hoàn toàn đi đến kết luận mà cũng không hoàn toàn từ chối đàm phán. Bắc Việt có vẻ như muốn kéo dài thời gian. Có lẽ Bắc Việt đã nhận ra rằng có thể trong cuộc nhóm họp trở lại sau ngày lễ Giáng Sinh có thể quốc hội mới được bầu lên của Hoa Kỳ sẽ cắt bỏ viện trợ cho Việt Nam. Dĩ nhiên họ cũng nóng lòng khai triển những sự bất đồng ý kiến giữa Hoa Kỳ cùng Việt Nam để chuyển những hiềm khích này thành hố thẳm.

Sau hơn ba tuần đàm phán vô hiệu, vào ngày 13 tháng 12, Lê Đức Thọ trở về Hà Nội để tham khảo ý kiến. Trước khi lên đường trở về, Thọ đã đồng ý hẹn ngày tiếp tục đàm phán vào sau ngày Lễ Giáng Sinh. Tuy thế, vào ngày 14, trong một cuộc họp ở văn phòng tổng thống cùng ông Kissinger và ông Haig, tổng thống Nixon đã kết luận rằng Bắc Việt đang chủ trương kéo dài thời gian. Ông cho rằng ngay cả vào lúc Bắc Việt đang dò dẫm tìm hiểu những hiềm khích thực sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, Bắc Việt cũng vẫn mưu toan buộc chánh phủ Hoa Kỳ phải đối phó với những đạo luật cắt giảm viện trợ của quốc hội.

Cả ba nhân vật tham dự cuộc họp đều cho rằng Hoa Kỳ cần phải gia tăng áp lực và chứng tỏ sức mạnh quân sự để buộc Bắc Việt phải đàm phán nhanh chóng hơn. Ba ngày sau, những trận mưa bom thay nhau rưới xuống Hải Phòng. Ngay ngày sau đó máy bay B-52 dội bom xuống các mục tiêu ở cả Hải Phòng lẫn Hà Nội. Cuộc dội bom vào ngày Lễ Giáng Sinh đã thực sự bắt đầu.

Cuộc dội bom là một dấu hiệu nhắn nhủ nhằm hai mục đích: Đối với trung ương đảng ở Hà Nội thì đây là một dấu hiệu chứng tỏ nếu Bắc Việt chịu đàm phán lập tức thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn. Tổng thống Nixon nhất định không chịu ngồi yên khi Hà Nội cố ý kéo dài thời gian. Đối với Sài Gòn thì hành động của tổng thống Nixon đã chứng tỏ Việt Nam có thể tin tưởng vào ông trong việc đàm phán. Hành động của Tổng Thống Nixon cũng cho thấy ông không hề e dè khi hành động trái với ý kiến dư luận nếu thực tế đòi hỏi. Cùng với những chuyến tiếp liệu của chương trình Enhance Plus, (Chương trình Enhance Plus chủ trương tiếp tục viện trợ tối đa cho Việt Nam trước khi quốc hội Hoa Kỳ có thể cắt bỏ viện trợ) cuộc dội bom là một hành động chứng tỏ Hoa Kỳ đáng được tin cậy.

Vào đầu tháng 12, ông Thiệu mời tôi vào dinh độc lập để trao đổi những ý kiến về tình hình chung. Khi cuộc dội bom kết thúc ông Thiệu cho vời tôi trở lại. Lần này ông yêu cầu tôi đi Hoa Thịnh Đốn để chu toàn một sứ mệnh. Mặc dù các áp lực của Hoa Kỳ đang đè nặng, ông Thiệu vẫn muốn thuyết phục Hoa Kỳ phải cứng rắn hơn trong việc điều đình với cộng sản. Ông Thiệu nói với tôi rằng: “Tuy là đã trễ nhưng chúng ta vẫn phải cố gắng làm những gì chúng ta có thể làm được. Tôi nhờ anh giải thích hộ với những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ rằng sự có mặt của quân đội Bắc Việt ở Miền Nam là một vấn đề sinh tử đối với Việt Nam Cộng Hòa. Có thể giờ phút này đã là quá trễ. Tôi cũng không rõ nữa. Nhưng như anh đã biết: Còn nước, còn tát.”

Tuy đã gặp rất nhiều khó khăn với ông Thiệu, nhưng lúc này tôi cũng cảm thông được tình cảnh đặc biệt của ông và hơn nữa, tôi nghĩ rằng ý kiến của ông Thiệu về việc không chấp nhận cho phép Bắc Việt có quân đóng ở Miền Nam Việt Nam hoàn toàn đúng. Tôi cũng biết rõ chẳng khác gì ông Thiệu rằng rồi đây chúng tôi khó lòng mà có thể tránh né được áp lực của Hoa Kỳ. Tuy thế, tôi vẫn tin là những nỗ lực cuối cùng dù sao cũng vẫn có vẻ thích đáng. Vì không đề phòng trước cuộc dội bom vào lúc giáng sinh, Bắc Việt đã bị tổn thất nặng nề. Nếu ông Kissinger có thể làm áp lực mạnh hơn không chừng Bắc Việt sẽ lại mềm dẻo. Biết đâu đây chẳng là một cơ hội tốt để khai thác vấn đề? 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"