Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

34 – Hiệp Định Ba Lê


Chương 34
Hiệp Định Ba Lê

Thể theo lời yêu cầu của ông Thiệu, tôi đến Hoa Thịnh Đốn vào sáng ngày 5 tháng giêng. Chiều hôm đó tôi cùng cụ Trần Văn Đỗ, ông Trần Kim Phượng (Đại sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ lúc này) đến gặp ông Kissinger tại văn phòng. Dĩ nhiên chúng tôi đến đây để tiếp tục cuộc thảo luận về bản dự thảo thỏa hiệp đã được Hoa Kỳ và Bắc Việt chấp nhận hồi tháng 10, nhưng sự hiện diện của tôi và cụ Đỗ một phần nào có tính cách tượng trưng. Vì một người là cựu ngoại trưởng, một người là cựu đại sứ, hai chúng tôi được mọi người biết đến như những người có tư tưởng ôn hòa, hiểu biết các quan điểm của Hoa Kỳ. Sự hiện diện của hai chúng tôi ở Tòa Bạch Ốc có nghĩa rằng lập trường của Việt Nam về sự có mặt của quân đội Bắc Việt ở Miền Nam là một lập trường được sự ủng hộ rộng rãi của đa số dân chúng Việt Nam.

Trong tất cả những năm tôi được biết ông Kissinger, lúc nào ông cũng cố tạo ra một bầu không khí dễ dãi, thân thiện để bắt đầu các vấn đề, cho dù là những vấn đề gay go nhất. Thường thì ông hay mở đầu bằng một vài câu bông đùa làm cho bầu không khí bớt căng thẳng đi. Nhưng lần này ông Kissinger không hề bông đùa. Tôi mở đầu câu chuyện bằng cách nói thẳng ngay rằng tại sao tôi phải trở lại Hoa Thịnh Đốn, rồi đi vào vấn đề Việt Nam không thể nào thỏa thuận điều kiện để cho Bắc Việt đóng quân ở Miền Nam Việt Nam như đã ghi trong bản dự thảo hiệp định Ba Lê được.

Ông Kissinger trả lời rằng việc Bắc Việt tiếp tục đóng quân đã được ông Thiệu mặc nhiên chấp nhận từ lâu. Ông Thiệu đã thỏa thuận việc này khi chấp thuận những nguyên tắc ngưng bắn tại chỗ vào tháng 5 năm 1971. Ông Kissinger tiếp lời: “Vì thế đưa ra vấn đề vào lúc này thật là quá trễ. Dầu sao tôi cũng sẽ cố gắng hết sức.” Ông Kissinger cả quyết rằng ông không có ảo tưởng gì về những mưu đồ của Bắc Việt trong tương lai, nhưng theo ông thì tương lai của chính sách Hoa Kỳ và những “chiến lược toàn cầu” lệ thuộc vào việc ký kết hiệp định với Bắc Việt. Chính vì thế, ông cho rằng hơn lúc nào hết, lúc này chính là lúc Hoa Kỳ cần phải đoàn kết với Việt Nam. Ông Kissinger trình bày tư thế của Tổng Thống Nixon và ông từ trước đến nay. Ông nêu rõ rằng trong quá khứ, dù là những khi vấn đề chiến cuộc gay go, ông vẫn chưa bao giờ chịu chấp thuận những giải pháp thiển cận của giới phản chiến. Và giải pháp của ông đề ra lúc này không phải là một giải pháp một chiều chỉ nhằm gỡ rối cho Hoa Kỳ và bỏ mặc Việt Nam. Sau khi trình bày tỉ mỉ quan niệm của ông và Tổng Thống Nixon, ông Kissinger kết luận: Đối với tình thế hiện thời tổng thống Nixon và ông đã bị buộc phải quyết định một cách “lạnh lùng” rằng Hoa Kỳ bắt buộc phải ký kết hiệp định Ba Lê vào lúc này. Ngoài ra, ông Kissinger còn tin bản hiệp định sẽ đặt định một căn bản mới cho việc tiếp tục viện trợ cho Miền Nam Việt Nam. Ông cho biết Hoa Kỳ sẵn sàng trả đủa nếu Việt Cộng vi phạm hiệp định.

Hôm đó, giọng ông Kissinger thật là sắc bén và cách nói chuyện của ông nặng vẻ chống chế. Ông tỏ vẻ bất bình về những tin đồn ở Ba Lê cho rằng ông xem nhẹ ý kiến của những người Miền Nam Việt Nam. Ông phát biểu rằng đây là những tin đồn nhảm nhí. Ông cũng tỏ vẻ bất bình vì những tin đồn khác cho rằng ông đang mưu tính đàm phán sách lược toàn cầu với Nga và một trong những đề mục của cuộc đàm phán đó là Hoa Kỳ sẽ giúp Nga ngăn cản sự ảnh hưởng của Tàu, bất kể đến lợi hại của Việt Nam. Cả hai vấn đề ông bất bình đều là hai vấn đề tự ông đưa ra chứ chính tôi lại chưa đề cập gì những việc đó cả. Tôi trình bày rằng tuy vấn đề Bắc Việt đóng quân ở Miền Nam Việt Nam chẳng làm thương tổn gì đến Hoa Kỳ, đây quả là vấn đề sinh tử của Việt Nam. Ông Kissinger cho biết ông hiểu tầm mức quan trọng của vấn đề và sẽ cố chuyển vấn đề tôi nêu vào việc thương thảo. Tuy thế tôi thấy rằng đây chỉ là một câu trả lời lấy lệ, chẳng có gì đáng tin cậy. Nói tóm lại chỉ có một điểm đáng chú ý trong cuộc tranh luận giữa tôi và ông Kissinger là việc ông Kissinger không muốn tranh luận trở lại những điểm mà Hoa Kỳ và Bắc Việt đã thỏa thuận khi trước. Cuộc họp của chúng tôi với ông Kissinger là một cuộc họp tràn đầy thất vọng. Chúng tôi chẳng thấy dấu hiệu nào chứng tỏ sự quyết tâm của ông Kissinger. Tuy rằng về phía Việt Nam chúng tôi chủ quan rằng cuộc dội bom vào lúc Giáng Sinh đã khiến Bắc Việt phải chịu nhiều tổn thất và phải đàm phán mềm dẻo hơn, nhưng sau khi gặp ông Kissinger, tôi thấy rằng Hoa Kỳ không suy nghĩ như chúng tôi. Rõ ràng là Hoa Kỳ cho rằng những tổn thất sau cuộc dội bom vào lúc Giáng Sinh vẫn chưa đủ để ông Kissinger có thể đàm phán quyết liệt cùng Bắc Việt trong lần đàm phán dự định vào ba ngày sắp tới.

Ngay ngày hôm sau ông Phượng, cụ Đỗ và tôi cùng được mời đến Bộ Ngoại Giao dùng bữa trưa với ông Alexis Johnson. Lúc đó ông Alexis Johnson đang làm việc dưới quyền Ngoại Trưởng Hoa Kỳ. Ngoài ông Johnson ra còn có cả ông Marshall Green, ông John Holdridge, đại sứ Sam Berger và ông Warren Nutter, phụ tá Bộ Trưởng Quốc Phòng đặc trách an ninh quốc tế. Lại thêm một lần nữa tôi cùng ông Phượng trở lại vấn đề sự có mặt của quân đội Bắc Việt ở Miền Nam Việt Nam. Hai chúng tôi đều quả quyết rằng vấn đề này thực sự chưa được giải quyết ổn thỏa và đây quả là lúc có thể trở lại vấn đề. Ông Alexis Johnson không hề tranh luận. Trái lại, ông đồng ý rằng cả hai chúng tôi đều đúng trên mặt lý thuyết. Và ông hỏi lại chúng tôi rằng: Nhưng nếu áp lực của quốc hội đang càng ngày càng tăng và Bắc Việt cứ khăng khăng ngoan cố thì còn giải pháp nào khác nữa?

Sau khi bữa cơm trưa hôm đó chấm dứt, ông Johnson kéo tôi vào một góc phòng và nói nhỏ: “Với tư cách của một người bạn cũ, tôi xin nói với anh rằng, những thái độ cứng rắn của tổng thống Việt Nam trong những tháng vừa qua đã cho thấy rõ rằng ông ta chẳng phải là bù nhìn của bất cứ ai. Nếu tôi không lầm thì có lẽ lúc này ông Thiệu đang ở một trong những cao điểm của cuộc đời chính trị. Lúc này ông ta nên cố giữ những gì gặt hái được. Lúc này là lúc ông Thiệu phải nhận thấy rằng Hoa Kỳ không bao giờ đổi chính sách. Nếu Hoa Kỳ có thay đổi chiến lược thì chẳng qua cũng chỉ là để cố giữ nguyên những chính sách đã đề ra mà thôi. Nếu ông Thiệu từ chối không chịu chấp nhận ký một bản hiệp định, mà chính tổng thống Nixon đã chấp thuận thì hậu quả sẽ tai hại vô lường. Hoa Kỳ sẽ phải cắt đứt tất cả những sự liên hệ với Việt Nam. Và đến giây phút đó thì chính những sự liên hệ của tôi với Việt Nam cũng phải chấm dứt. Tất cả những người bạn mà Việt Nam còn sót lại cũng không còn cách gì khác hơn là hành động giống tôi. Đây là những điều hoàn toàn chân thật tôi nói như một người bạn của Việt Nam đã từ nhiều năm qua.”

Tôi chống chế là Hoa Kỳ đã buộc ông Thiệu phải chấp nhận một tình trạng vô cùng nguy hiểm và lúc này là lúc Hoa Kỳ phải giúp ông Thiệu chu toàn trách nhiệm với người dân Việt Nam. Nhưng ông Johnson lại lộn ngược câu hỏi: “Liệu ông Thiệu có chịu để cho chúng tôi giúp đỡ ông hay không? (Có nghĩa là: Liệu ông Thiệu có chịu ký kết hay không?”)

Ông Alexis Johnson quả thật là một người bạn cũ lâu năm của Việt Nam. Vào năm 1964-1965 ông là phó đại sứ dưới quyền đại sứ Maxwell Taylor. Trong những năm đó, ông đã cố gắng ngăn cản sự can thiệp ồ ạt của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Chính ông Alexis Johnson cũng cảm thấy thất vọng khi chánh phủ dân sự của bác sĩ Quát sụp đổ. Ngoài ra ông còn là người đứng đắn, hiểu biết và đã cộng tác gần gũi với tôi rất lâu. Thế mà giờ đây chúng tôi vẫn nói chuyện với nhau như hai người điếc. Hố sâu ngăn cách đã quá rộng, chúng tôi chẳng còn cách nào có thể dung hòa các chánh sách của Hoa Kỳ và Việt Nam được nữa.

Tuy thế cuộc tranh luận vẫn còn tiếp tục. Sau khi hết giờ cơm trưa, ông Phượng, cụ Đỗ và tôi lại lên thẳng lầu 7 của Bộ Ngoại Giao để gặp Ngoại Trưởng Rogers. Khi đến nơi, chúng tôi trình bày tỉ mỉ mọi chuyện, và rồi nói với Ngoại Trưởng Rogers rằng sở dĩ chúng tôi phải yêu cầu Hoa Kỳ lưu ý là vì đây là một vấn đề có liên quan đến sự sinh tử của Việt Nam. Nếu các ông đặt mình vào tư thế của chúng tôi thì các ông sẽ thấy quả thật chúng tôi không hề có ý cản trở hòa bình. Chúng tôi chỉ yêu cầu những điều kiện tối cần mà thôi. Tôi nói rằng đối với Hoa Kỳ thì vấn đề Việt Nam chỉ là một trong những vấn đề chính trị. Nếu Hoa Kỳ thua cuộc ở Việt Nam thì vấn đề chỉ là một trang sử của Hoa Kỳ nhưng đối với chúng tôi thì dù có đồng ý, không đồng ý, hoặc đồng ý với điều kiện nào đi nữa thì tất cả vẫn chỉ là một vấn đề độc nhất: Đây là vấn đề sinh tử của Miền Nam Việt Nam.

Ông Rogers một mực cả quyết rằng tổng thống Nixon chưa bao giờ xem Việt Nam là một vấn đề thứ yếu. Khi bàn đến vấn đề Việt Nam ông Rogers lý luận rằng “những yêu cầu của chúng tôi quả đúng trên mặt lý thuyết (chẳng khác gì ông Johnson đã tuyên bố vài phút trước đây) nhưng, nếu chỉ có lý thuyết mà không có những sự kiện thực tế để bênh vực thì những lý thuyết đó cũng cầm bằng vô dụng. Vấn đề chỉ là chọn cách nào trong số những chọn lựa còn sót lại. Nhưng quả thật thì còn cách chọn lựa nào nữa? Còn con đường nào khác hơn nữa? Với áp lực quốc tế vào lúc này cùng những áp lực của quốc hội và dân chúng Hoa Kỳ, tình thế cho thấy tổng thống Nixon đã liều lĩnh vì Việt Nam quá nhiều rồi. Ông ta không thể nào đi xa hơn được nữa!”

Tôi cố dành thì giờ của những ngày còn sót lại, để đến họp với các Thượng Nghị Sĩ, các dân biểu và giới báo chí. Tôi quyết chí tìm cho bằng được những đầu mối có thể ảnh hưởng các chính sách của Hoa Kỳ có liên quan đến việc ủng hộ Việt Nam. Tôi đã tìm đến rất nhiều bạn bè cũ ở quốc hội như ông Hubert Humphrey, ông Jacob Javits, ông John Tower và ông George Aiken. Tôi nghĩ rằng sau khi gặp bốn Thượng Nghị Sĩ vừa kể, tôi sẽ thông tỏ phần nào tình hình của quốc hội Hoa Kỳ vào lúc này. Bốn Thượng Nghị Sĩ đều nói thẳng với tôi rằng quốc hội đã quyết ý chấm dứt chiến tranh. Tôi cũng chẳng thấy ngạc nhiên cho lắm. Cuộc dội bom vào dịp Lễ Giáng Sinh đã gây ra quá nhiều chống đối. Ngay cả những thượng nghị sĩ của đảng Cộng Hòa ủng hộ tổng thống Nixon khi trước cũng đã bắt đầu phản đối ông. Tổng thống Nixon không thể kêu gọi thượng viện ủng hộ được nữa. Từ trước tới nay, lúc nào Hạ Viện cũng đứng sau Thượng Viện trong những quyết nghị cắt giảm viện trợ cho Việt Nam. Thế mà giờ đây cả vấn đề này cũng thay đổi. Mới đây, Hạ Viện còn dẫn đầu Thượng Viện khi bỏ phiếu cho các quyết nghị cắt giảm viện trợ cho Việt Nam. Dĩ nhiên, trong quốc hội Hoa Kỳ chẳng có dân biểu hoặc Thượng Nghị Sĩ nào muốn đứng ra nhận lãnh trách nhiệm cho những nghị quyết cắt bỏ viện trợ, nhưng rất nhiều dân biểu đã tỏ thái độ bằng những cách gián tiếp khác. Họ tìm cách trì hoãn những nghị quyết viện trợ cho Việt Nam và cố giới hạn những quyền hạn của Tổng Thống Nixon về vấn đề viện trợ. Lúc này, tất cả bốn Thượng Nghị Sĩ đều đồng ý rằng vấn đề viện trợ cho Việt Nam có rất ít hy vọng được quốc hội chấp thuận. Tuy vậy, nếu Việt Nam chịu ký hiệp định Ba Lê thì họ cho rằng có thể quốc hội sẽ thay đổi thái độ. Cả bốn Thượng Nghị Sĩ đều nói nếu Việt Nam chịu ký hiệp định Ba Lê thì chính họ sẽ tìm cách vận động để thuyết phục quốc hội thông qua các nghị quyết viện trợ.

Khi cuộc họp kết thúc, cả hai ông Aiken và Tower vốn là hai bạn thân của tôi trong thượng viện, đều khuyên tôi rằng đây là lúc Việt Nam phải “thực tế” và hiểu rằng Hoa Kỳ thật sự chẳng còn làm gì hơn được nữa.

Tôi lại đến gặp các bạn bè trong giới báo chí, nhất là những người có nhiều liên lạc với ông Kissinger để cố tìm hiểu xem họa chăng còn có vấn đề gì đã bỏ qua mà không nhìn thấy chăng? Tôi tìm đến các ông Joe Kraft, Marvin Kalb, Murray Marder, ông Chalmers Roberts, tất cả đều có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết về vấn đề ngoại giao. Tất cả những người tôi tìm đến đều cùng đồng ý kiến. Họ trình bày với tôi bằng cách này hay cách khác rằng chẳng còn gì để bàn luận. Họ đều đồng loạt cho rằng đã có một sự mặc nhiên đồng ý giữa các cường quốc về việc ngưng bắn. Họ quan niệm rằng đã có nhiều điều được hai bên thỏa thuận: Bắc Việt không còn đòi hỏi lật đổ ông Thiệu. Đây là một trong những điều mà Bắc Việt đã đòi hỏi trong suốt bốn năm. Để đổi lại, Hoa Kỳ sẽ không đòi hỏi Bắc Việt phải rút quân ra khỏi Miền Nam. Vì thế, sẽ không có biến chuyển gì quan trọng trong những cuộc đàm phán lúc này.

Vào ngày 9 tháng 1-1972 tôi đến gặp ông Alexander Haig mà trong lòng thất vọng não nề. Ông Haig là người có nhiều kinh nghiệm cả về mặt quân sự lẫn dân sự. Ông đã từng là phụ tá cho cả ông Kissinger lẫn tổng thống Nixon trong suốt 4 năm. Kinh nghiệm của ông Haig về vấn đề Việt Nam thật là hiếm có. Ông chẳng những chỉ hiểu biết Việt Nam trên mặt ngoại giao mà đã từng gia nhập cả quân đội tác chiến ở Việt Nam. Vì đã từng là tiểu đoàn trưởng ở Việt Nam trong thập niên 60 nên ông Haig hiểu rõ phong thổ và tánh tình người Việt. Kinh nghiệm đặc biệt này đã khiến ông có những nhận định chính xác về tình hình chiến cuộc Việt Nam. Trước đây, khi tôi còn là đại sứ của Việt Nam ở Hoa Kỳ, tôi đã nhiều lần gặp ông Haig. Lẽ dĩ nhiên tôi thấy tôi có thể nói chuyện với ông Haig rất dễ dàng.

Khi tôi đến văn phòng ông ở Ngũ Giác Đài, ông Haig cho biết ông vừa mới họp với tổng thống Nixon trong một cuộc họp rất dài. Ông Haig nói rằng Tổng Thống Nixon “hết sức lo ngại” vì những sự chia rẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vì đây chính là cơ hội hiếm có mà Bắc Việt đã hết lòng mong mỏi. Tổng thống Nixon cũng “rất khó chịu” về thái độ của ông Thiệu khi thấy rằng ông Thiệu đang khước từ bản hiệp định trong khi chíng Tổng Thống Nixon đã chấp thuận bản hiệp định đó. Hành động của ông Thiệu đã khiến tổng thống Nixon không thể giúp ông.

Tôi cắt lời ông Haig để trình bày rằng chính chúng tôi cũng khó chịu không kém. Khi ông Kissinger và tổng thống Nixon mang bản dự thảo thỏa hiệp đến Sài Gòn vào tháng 10-1971, chúng tôi chưa hề được tham khảo ý kiến đầy đủ dù chỉ là trên những điểm chính của bản hiệp định. Ông Haig trả lời rằng: “Đúng, đây quả là một lỗi lầm lớn, một sai lầm đáng kể về phía chúng tôi.” (Đây là nguyên văn câu nói của ông Haig. Ngay sau khi gặp ông Haig, tôi đã ghi lại các diễn tiến của cuộc họp và cũng đã gửi điện về Sài Gòn cho ông Thiệu biết rõ vào ngay đêm đó.)

Tôi nói với ông Haig: “Như ông đã biết, ngay từ khi tôi còn là đại sứ tôi cũng đã nhiều lần nói với ông rằng kể từ tháng 9 năm 1971 cho tới tháng 1 năm 1972 sự trao đổi ý kiến giữa hai chánh phủ không được đầy đủ.”

“Đúng vậy,” ông Haig trả lời, “đây là một trong những sai lầm, nhưng thái độ của các ông đối với ông Kissinger cũng có phần quá đáng. Tổng thống Việt Nam đã hiểu lầm ông Kissinger và một phần lỗi quả là do ông Kissinger. Nhưng dẫu sao thì lúc này tất cả đều là chuyện đã qua. Và ngay trong thời gian hiện tại, chẳng lẽ ông vẫn chưa thấy rõ tình cảnh của chúng tôi? Tổng thống Nixon chẳng còn xoay sở gì được nữa. Nếu Việt Cộng đã đồng ý nói chuyện triệt quân, đã đồng ý với mọi thủ tục ngưng bắn, đã đồng ý với mọi thủ tục ký kết thì Tổng Thống Nixon sẽ phải ký kết. Tôi biết chắc ý định của tổng thống Nixon là chấp thuận ký kết. Rồi đây, chính tổng thống Nixon sẽ chánh thức kêu gọi ông Thiệu hợp tác. Nếu ông Thiệu từ chối thì Hoa Kỳ sẽ phải cắt bỏ Việt Nam. Chính tôi cũng sắp sang Việt Nam và khi đó thì chắc chắn là chẳng ai có thể bưng mắt khi phải trực diện với sự thật.”

Tôi trở về tòa đại sứ viết bản báo cáo cuối cùng cho ông Thiệu và sửa soạn sang Pháp cho kịp loạt đàm phán cuối cùng, bên tai tôi vẫn vẳng câu nói “trực diện với sự thật”.

Chiều hôm đó, cụ Đỗ và tôi cùng bay sang Ba Lê. Tại đây Kissinger đã đàm phán cùng Lê Đức Thọ được ba ngày. Tuy chúng tôi vẫn chưa mảy may hay biết những điểm quan trọng đã được thỏa thuận. Vào ngày 8 tháng 1-1972, Kissinger cùng Lê Đức Thọ đã quyết định chú tâm vào hai vấn đề chính: Vùng phi quân sự và các thủ tục ký kết. Nếu vấn đề hiện diện của quân đội Bắc Việt có được bàn cãi đi chăng nữa thì cùng chỉ là một vấn đề bàn cãi suông. Ngay ngày hôm sau, ngày 9 tháng 1, vấn đề ranh giới vùng phi quân sự được hai bên thỏa thuận. Hai bên đều khẳng định sẽ có một hàng rào phân đôi hai miền Nam Bắc. Như vậy vấn đề cuối cùng còn lại chỉ là: Làm thế nào để chữ ký của Ngoại Trưởng Việt Nam sẽ không cùng xuất hiện với chữ ký của đại diện Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời. Từ trước tới nay chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa vẫn không chánh thức nhìn nhận chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời và vì không chánh thức nhình nhận chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời nên chánh phủ Việt Nam chưa bao giờ ký kết bất cứ điều gì với đoàn thể này. Tuy thế, ông Kissinger cho rằng đây chỉ là một vấn đề thủ tục hơn là hơn là một điểm có tính cách quan trọng thực tế.

Vào tối ngày 12 tháng giêng, năm nhà ngoại giao của Việt Nam họp mặt cùng các ông Kissinger, William Sullivan và nhiều nhân viên khác để thảo luận những diễn tiến của cuộc đàm phán. Tại Faubourg Saint-Honore, trong cuộc họp mặt tại tư thất của đại sứ Hoa Kỳ, ông Kissinger mở đầu bằng cách tấn công vào hai đặc sứ của Việt Nam là tôi và cụ Đỗ. Vì đã bị quá nhiều nhân viên Việt Nam truy vấn về các điều khoản đàm phán, ông Kissinger lúc này chào đầu chúng tôi với đề nghị rằng có lẽ cả hai chúng tôi nên về Việt Nam ngay để cho ông Thiệu biết rõ lập trường của Hoa Kỳ lúc này. Ông Kissinger lý luận rằng ông Thiệu ắt hẳn phải thấy đây là lúc Việt Nam nên ký kết để hiệp định Ba Lê có thể được công bố trước khi quốc hội Hoa Kỳ có cơ hội cắt viện trợ. Bởi vậy lúc này có lẽ là lúc Việt Nam nên hành động gấp để có thể ảnh hưởng quốc hội Hoa Kỳ. Ý Ông Kissinger có ý nhấn mạnh sự cần thiết của việc phải khẩn cấp đàm phán. Cụ Đỗ đáp trả rằng việc phải đàm phán khẩn cấp với Cộng Sản là việc dễ dàng như trở bàn tay. Các ông chỉ cần thỏa thuận cho họ tất cả những điều họ đòi hỏi là xong.

Sau những câu chào đón hục hặc đó thì cuộc bàn luận có vẻ bớt xung khắc tuy rằng bên chúng tôi lúc nào bầu không khí cũng nặng nề, nghiêm trọng. Ông Kissinger tổng kết tình hình tất cả các cuộc đàm phán và chỉ ra những tiến triển khả quan. Ông trình bày những điểm khả quan trong những vấn đề như khẳng định vùng phi quân sự, tiếp tục viện trợ cho Việt Nam về mặt quân sự, tăng cường ủy ban giám sát quốc tế và những điểm khả quan trên nhiều phương diện khác. Khi ông Kissinger dứt lời thì phòng họp lặng yên trong vòng một phút rồi cụ Đỗ (theo như tôi nhớ) lên tiếng hỏi rằng: “Thưa ông Kissinger, những tiến triển ông vừa bàn đến quả thật quan trọng nhưng điều quan trọng nhất vẫn là sự hiện diện của các đội quân Bắc Việt ở Miền Nam Việt Nam. Vấn đề này đã được bàn bạc ra sao?” Ông Kissinger trả lời rằng:
Tuần này, tôi cũng đã bàn đến vấn đề rút quân của các quân đội Bắc Việt gần suốt ba tiếng đồng hồ mà cũng vẫn không đạt được thêm kết quả nào. Tuy nhiên, nếu những điều khoản liên quan đến các vùng phi quân sự ở Lào và Cam Bốt được giữ đúng như bản hiệp định đã đề ra thì trên mặt pháp lý Bắc Việt hoàn toàn không có lý do gì để đóng quân ở Miền Nam Việt Nam. Theo tôi thấy thì Bắc Việt chưa hề đòi hỏi chúng ta phải cho phép quân đội của họ đóng binh ở Miền Nam. Hơn nữa, trong tất cả các điều khoản của hiệp định Ba Lê cũng chẳng có điều khoản nào cho quyền họ đóng quân ở Miền Nam. Tôi có thể cho ông xem những phần trích dẫn trong các tài liệu đàm phán ghi chú lại những điều các đại diện Bắc Việt tuyên bố. Trong những tài liệu đó Bắc Việt tuyên bố rằng họ không hề có quân đóng ở Miền Nam. Chúng tôi có thể cho ông xem một bản chú thích trích dẫn những điều họ tuyên bố. Qua các điều tuyên bố trong tài liệu đó chúng tôi suy luận rằng họ không hề yêu cầu chúng ta phải cho phép họ đóng quân ở Miền Nam Việt Nam.

Có thể trên phương diện pháp lý thuần túy thì câu trả lời của ông Kissinger còn mang một ý nghĩa nào đó nhưng khi đem áp dụng vào một cuộc chiến giữa hai kẻ thù không đội trời chung thì câu trả lời đó đối với chúng tôi quả là một câu trả lời mang tính chất siêu hình hoàn toàn vô nghĩa. Theo tôi thì đây là một câu trả lời thiếu thành thật. Thử hỏi người Hoa Kỳ sẽ suy nghĩ ra sao nếu có một thành phần thứ ba đứng ra đàm phán cho Hoa Kỳ ký kết một hiệp định cho phép kẻ thù của Hoa Kỳ đóng quân dọc theo suốt biên giới Hoa Kỳ từ California qua New York rồi bằng vào một lô lý luận, kết luận rằng kẻ thù của Hoa Kỳ quả thật không có quyền hiện diện ở những nơi này trên mặt pháp lý?

Ông Kissinger tiếp tục nói thêm: “Chẳng bao lâu nữa, tổng thống của các ông sẽ phải quyết định liệu có chấp thuận cùng Hoa Kỳ ký kết hiệp định Ba Lê hay không. Qua lần từ chối ký kết vào tháng 10 vừa rồi, rất nhiều đòi hỏi của ông Thiệu đã được thỏa mãn: Một tỷ đô la vũ khí, ba tháng để sửa soạn ngưng bắn và một tình hình khả quan hơn rất nhiều. Nhưng rồi đây chúng ta sẽ phải trực diện với sự thật. Việt Nam phải thỏa thuận hoặc sẽ bị Hoa Kỳ cắt bỏ tất cả viện trợ.”

Cuộc họp với ông Kissinger và ông Sullivan kéo dài đến nửa đêm. Khi trở về khách sạn, tôi lập tức bắt đầu soạn bản tường trình cho ông Thiệu, tóm tắt tất cả những nhận định của tôi sau suốt bảy ngày chống trả:
Qua các tổng kết của nhiều trường hợp, ý kiến quốc tế và nhất là ý kiến của dân chúng Hoa Kỳ, việc đã cho thấy Hoa Kỳ nhất định sẽ không trì hoãn vấn đề ký kết hiệp định hòa bình ở Việt Nam. Đúng hay sai không còn là vấn đề nữa. Vấn đề chính lúc này chỉ là câu hỏi: Chừng nào sẽ có Hòa Bình? Ngay dù chỉ là một nền hòa bình tạm bợ. Rồi đây, Việt Nam sẽ phải khốn khổ cố tránh né những chỉ trích của toàn thế giới để khỏi bị cô lập hoàn toàn.

Nếu nói riêng phía Hoa Kỳ thì tôi cho rằng Ngoại Trưởng Rogers, ông Kissinger và ông Haig trên một mức độ nào đó đã có vẻ như cố đe dọa chúng ta. Tuy thế, chúng ta cũng phải nhận thấy những khó khăn của Chánh Phủ Nixon. Một mặt họ không thể giải quyết vấn đề. Mặt khác, họ cảm thấy không thể đi sâu hơn được nữa. Theo như tôi thấy thì tổng thống Nixon không còn chỗ để xoay sở nữa. Tại Ba Lê ông Kissinger đã nói với tôi rằng, “Chắc ông cũng biết chúng tôi rất muốn chiến thắng về mặt quân sự, nhưng việc này vượt ngoài khả năng chúng tôi. Bây giờ là lúc chúng tôi phải tạm ổn định trước khi chúng tôi phải hoàn toàn bó tay.”

Trong tình trạng thúc đẩy hòa bình của Hoa Kỳ và ý kiến chung của cả quốc tế cùng những thực tế chính trị ở Hoa Kỳ, tôi đã hết sức [tìm một giải pháp khác], bởi vì “Còn nước còn tát…” Nhưng quả thật tôi thấy mình đang ở trong một tình trạng cực kỳ thất vọng. Tôi khó thể thu thập bình tĩnh để đưa bất cứ lời khuyên hoặc đề nghị gì vào lúc này. Tuy thế, tôi biết rõ rằng chúng ta đang ở vào một khúc quanh lịch sử. Việc quyết định thật là khó khăn, phức tạp vô độ. Nhưng đây là việc không thể tránh được.

Theo tôi thì chúng ta phải phấn đấu với tất cả sức mạnh của chúng ta. Và chỉ vào lúc đó chúng ta mới nên quyết định. Việc quyết định nằm giữa hai sự chọn lựa: Khước từ vấn đề ký kết (và nhận lãnh tất cả mọi hậu quả vì quyết định của chúng ta) hoặc ký kết với hy vọng rằng mặc dầu bản hiệp định có rất nhiều khuyết điểm nhưng bằng vào sự đoàn kết của những người trong nhóm quốc gia cùng những hứa hẹn viện trợ của Hoa Kỳ, chúng ta sẽ có thể vượt qua mọi khó khăn. Dĩ nhiên, giữa hai cách chọn, chúng ta cũng có thể chọn cách thứ ba, cách này là chấp nhận hiệp định nhưng khước từ không ký kết. Dầu vậy, tôi xin nói ngay rằng nếu trên mặt lý thuyết cách chọn thứ ba có vẻ hấp dẫn thì trên thực tế cách chọn này vẫn chẳng khác gì cách chọn khước từ không chịu ký kết. Và trong trường hợp này, những hậu quả tai hại giữa chúng ta và Hoa Kỳ cũng vẫn chẳng khác gì [trường hợp chúng ta khước từ không chịu ký kết].

Tôi hoàn tất bản tường trình vào khoảng 4, 5 giờ sáng. Toàn thể bản tường trình dài khoảng hơn 25 trang. Khi tôi viết xong, bản tường trình được gửi thẳng về Sài Gòn.

Tôi biết rõ rằng cuối cùng ông Thiệu cũng sẽ phải ký kết. Nhưng bất kể kết cục ra sao, tôi vẫn muốn hết sức làm tất cả mọi việc để thuyết phục các đồng minh khác ngoài Hoa Kỳ. Trước tiên, tôi muốn trình bày cho họ hiểu rõ rằng Việt Nam quả thực không hề có ý ngăn cản hòa bình. Tôi muốn gây cảm tình với những đồng minh khác ngoài Hoa Kỳ vì cho rằng bất kể ông Thiệu có ký kết hay không thì việc vận động để các đồng mình khác ủng hộ Việt Nam vẫn là vấn đề quan trọng.

Với những toan tính này trong đầu, tôi đến gặp ông Robert Schumann, Ngoại Trưởng Pháp. Tuy rằng những liên hệ ngoại giao giữa Pháp và Việt Nam lúc này có hơi căng thẳng, ông Schumann vẫn đón tiếp tôi rất thân mật . Ông Schumann cho biết rằng Pháp sẽ đồng ý tham gia hội nghị quốc tế về vấn đề Đông Dương. Từ trước tới nay, tất cả những nước ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa đều đề cập đến 4 quốc gia ở Đông Dương là Bắc Việt, Việt Nam Cộng Hòa, Lào và Cam Bốt. Nhưng riêng Bắc Việt thì vẫn có ý coi Việt Nam là một quốc gia và đề cập đến Đông Dương như chỉ bao gồm 3 quốc gia. Việt Nam được đề cập đến như một chứ không phải hai quốc gia như thế giới vẫn thường quan niệm. Tuy rằng lúc này ông Kissinger và Bắc Việt đã cùng thỏa thuận rằng chỉ có 3 quốc gia ở Đông Dương, theo tôi biết thì trong lần đọc diễn văn mới đây, Tổng Thống Pompidou của Pháp đã đề cập đến bốn quốc gia ở Đông Dương. Ông có ý công nhận hai nước Việt Nam thay vì một như Kissinger đã đề trong hiệp định Ba Lê. Những phát biểu của tổng thống Pompidou không hề có gì vô ý cả. Lời nói của ông Pompidou là lời nói của một vị nguyên thủ quốc gia. Lời nói đó xác nhận rằng Pháp sẽ tiếp tục công nhận Việt Nam Cộng Hòa như một chánh phủ hợp pháp khác hẳn với chánh phủ Bắc Việt.

Trong khi ở Ba Lê, tôi cũng nhân cơ hội đến gặp một số nhà trí thức Pháp và Việt Nam. Tại đây tôi cố dùng cương vị ngoại giao của tôi để gián tiếp ảnh hưởng ông Thiệu. Tôi nói rõ cho ông Thiệu biết ý kiến của giới trí thức và giới ngoại giao ở Pháp về hiệp định Ba Lê, nhưng cố ý nhấn mạnh những điều trùng hợp với sự suy nghĩ của riêng tôi, nhất là về vấn đề đoàn kết. Tôi viết cho ông Thiệu rằng: “Dù chúng ta có được một hiệp định thỏa đáng [ở Ba Lê], nếu không có đoàn kết thì hiệp định này cũng chẳng đi đến đâu. Ngược lại, tuy bản hiệp định mang đầy khuyết điểm nhưng nếu chúng ta đều đồng lòng đoàn kết thì việc cũng chưa hẳn hoàn toàn vô vọng. Cho đến giờ phút này chúng ta cũng vẫn còn chưa tận dụng được những tiềm lực của quốc gia. Vẫn còn rất nhiều những nhân vật quốc gia chưa cộng tác với chính phủ.”

Vào ngày 17, tôi rời Ba Lê sang Luân Đôn đến gặp Ngoại Trưởng Anh Quốc là ông Alec Douglas- Home. Ngoại Trưởng Douglas-Home nhấn mạnh rằng nếu có việc gì nước Anh có thể làm thì xin Việt Nam đừng ngần ngại. Ông Home còn giới thiệu tôi với nhiều dân biểu khác của quốc hội, nhất là những dân biểu cũng cùng ủng hộ Việt Nam như ông. Một trong những người ông Home giới thiệu với tôi là dân biểu James Callaghan của đảng Lao Động, người sau này là thủ tướng Anh Quốc. Ông Callghan cho tôi biết rằng trong những cuộc họp của các đảng xã hội quốc tế mới đây, Anh Quốc cùng Thủ Tướng Golda Meir của Do Thái đã tuyên bố ủng hộ Miền Nam Việt Nam.

Tôi trở về Ba Lê vào ngày 21 tháng 1-1972 khi có tin cho biết ông Thiệu chấp nhận bản dự thảo hiệp định. Ông Thiệu chỉ bỏ cuộc sau khi đã trao đổi hàng loạt thư từ với tổng thống Nixon và đã “trực diện với sự thật”, chẳng những một mà rất nhiều lần. Diễn biến cuối cùng cho thấy ông Thiệu vẫn phải ký kết. Tổng thống Nixon đã nghiêm trang cam kết tiếp tục ủng hộ Việt Nam nếu ông Thiệu chịu ký kết hiệp định Ba Lê, và cũng đã nghiêm trang cam kết cắt bỏ hoàn toàn viện trợ nếu ông Thiệu khước từ. Ông Thiệu hiểu rõ nếu không có viện trợ thì cả chánh phủ của ông lẫn Miền Nam Việt Nam đều không thể đứng vững. Với viện trợ của Hoa Kỳ, ít nhất ông cũng còn một cơ hội. Kết quả là vào ngày 23 tháng 1-1972, hiệp định đã được Lê Đức Thọ và Kissinger ký kết ở Ba Lê. Bốn ngày sau đó hiệp định được tất cả các đương sự ký kết. Hà Nội cùng chính phủ Lâm Thời ký chung trong một trang, Việt Nam cùng Hoa Kỳ ký chung trong một trang khác.

Một trong những lý do chính khiến ông Thiệu ký kết là việc Hoa Kỳ hứa sẽ mời ông sang Hoa Kỳ gặp tổng thống Nixon. Ông Thiệu cho là chuyến sang Hoa Kỳ đó là tối quan trọng vì hai lý do: Thứ nhất, nếu ông Thiệu được mời sang Hoa Kỳ để gặp Tổng Thống Nixon thì uy tín trong nước của ông Thiệu sẽ gia tăng. Thứ hai: Ông Thiệu muốn đo lường sự quyết tâm của Hoa Kỳ. Ông Thiệu cho rằng ông chỉ có thể khẳng định được thái độ của Hoa Kỳ nếu ông có dịp tiếp xúc mặt đối mặt với Tổng Thống Nixon. Đây là lần đầu tiên ông Thiệu sang Hoa Kỳ. Một trong những câu hỏi đã ám ảnh ông Thiệu trong suốt cuộc đời chính trị của ông là: “Hoa Kỳ thực sự tính toán, mong mỏi điều gì?” Chuyến sang Hoa Kỳ lần này là một cơ hội để ông có thể tìm ra câu trả lời.

Chuyến viếng thăm của ông Thiệu được dự trù vào ngày 3 tháng 4, năm 1972, ông Thiệu nhờ tôi đến Hoa Kỳ vào tháng hai để sửa soạn mọi việc. Trong khi đó, thì con gái lớn của chúng tôi đang học ở đại học Georgetown lại sắp sửa lập gia đình nên nhà tôi cũng cần phải sang Hoa Kỳ để sắp xếp. Bởi thế trong khi tôi lo sửa soạn cho cuộc họp của ông Thiệu và tổng thống Nixon thì nhà tôi cũng có nhiều việc riêng cần phải sắp xếp, lo liệu.

Việc sửa soạn chu tất cho chuyến viếng thăm đã khiến tôi liên lạc trở lại với những phụ tá của Tòa Bạch Ốc, với các dân biểu, Thượng Nghị Sĩ, Phóng viên và giới báo chí ở Hoa Thịnh Đốn. Tôi bắt đầu dò dẫm tình hình sau khi hiệp định Ba Lê được ký kết và đã cảm thấy những khác biệt đáng kể. Những áp lực chống đối đè nặng chỉ mới hai tháng trước đây đã tan biến. Vì tất cả binh lính Hoa Kỳ đã hồi hương và tất cả những tù binh đã được giao trả hoặc sẽ được giao trả, cơn sốt chống đối của Hoa Kỳ đã giảm dần.

Vào ngày 2 tháng 4, tôi bay từ Hoa Thịnh Đốn tới Honolulu nhằm đón máy bay ông Thiệu để có thể cùng ông sang Los Angeles và từ đó bay về hướng Nam sang San Clemente nơi tổng thống Nixon cư ngụ. Tưởng cũng không cần nói thêm rằng, so với Midway thì San Clemente quả dễ chịu hơn, nhưng đây vẫn không phải là Hoa Thịnh Đốn và tất cả chúng tôi đều không cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn. Chẳng hiểu vì sao một người rành rẽ về giao tế như tổng thống Nixon mà lại có thể không nhận thấy những ảnh hưởng của cuộc họp này đối với dư luận báo chí Việt Nam.

Nhưng tuy ông Thiệu có vẻ hơi thất vọng về nơi chốn gặp gỡ, ông đã xoay sở để có dịp bàn luận với vị tổng thống Hoa Kỳ. Tổng thống Nixon đã nói những câu ông Thiệu mong mỏi được nghe: “Ông có thể tin tưởng nơi chúng tôi. Hoa Kỳ chắc chắn sẽ phản ứng thích đáng nếu Bắc Việt vi phạm các điều khoản trong hiệp định Ba Lê.” Trong khi ông Thiệu nói chuyện với tổng thống Nixon thì tôi và ông John Holdridge lại không đồng ý về vấn đề nên soạn thảo một bản thông cáo chung thế nào cho phù hợp. Tôi muốn bản thông cáo chung phải bao gồm những ngôn từ mạnh mẽ và chi tiết trong khi ông Holdridge lại có ý muốn dùng những ngôn từ tổng quát. Cuộc tranh luận cứ loay hoay mãi chẳng đi đến đâu và cho đến mãi khi bắt đầu món cocktail thì chúng tôi cũng giải quyết được vấn đề tranh luận.

Trong bữa ăn tối đó, tôi ngồi cạnh ông Graham Martin, người mà tôi được biết sẽ thay thế ông Ellsworth Bunker làm đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam. Lúc này ông Bunker đã làm đại sứ được sáu năm và đang sắp sửa về hưu. Dĩ nhiên là tôi cố tìm cách tìm hiểu ông Martin. Tôi đã bỏ ra rất nhiều thời giờ mà vẫn không đạt được kết quả như ý. Tuy tôi biết ông đã từng là đại sứ ở Thái Lan và đã có nhiều kinh nghiệm tiếp xúc với các quốc gia ở Á Châu, trong bữa ăn tối đó tôi vẫn chẳng biết được thêm điều gì. Cũng giống như tất cả những nhà ngoại giao khác, ông Martin lúc nào cũng giữ đúng phép xã giao nhưng ông lại rất ít nói và có vẻ hơi lạnh lùng. Tôi chẳng biết gì nhiều về ông và cũng chưa biết được rằng về sau ông lại là một đại sứ thiếu thực tế và quá chủ quan.

Tuy rằng ông Kissinger đã viết trong hồi ký rằng ông cảm thấy hổ thẹn về cung cách Hoa Kỳ đón tiếp ông Thiệu -có vẻ là một cuộc đón tiếp xã giao và quá giới hạn đối với những cuộc tiếp xúc có tính cách quốc gia như những cuộc gặp gỡ này- thật sự thì những nhân vật Việt Nam cảm thấy được khích lệ rất nhiều. Riêng ông Thiệu đã cho buổi gặp gỡ là một thành công. Ông đã được hứa ủng hộ viện trợ về các mặt kinh tế, quân sự cũng như được hứa rằng Hoa Kỳ sẽ sẵn sàng trả đủa bằng những biện pháp quân sự nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định. Dĩ nhiên là tin tưởng của ông Thiệu tăng lên rất nhiều. Sau đó, chúng tôi bay về Hoa Thịnh Đốn. Trên đường về, ông Thiệu đã mở Champagne và ăn mừng ngày sinh nhật của ông trên máy bay.

Trong khi tất cả chúng tôi đang ăn mừng thì có lẽ chẳng ai có thể ngờ rằng lúc này, tổng thống Nixon đã bước sâu vào vũng lầy của vụ Watergate. Thực ra thì vào ngay cả khi Tổng Thống Nixon tiếp đón chúng tôi ở San Clemente thì chính ông cũng đang khốn đốn vì tuyệt vọng. Vụ Watergate lúc này sắp sửa được đưa ra trước dư luận và Tổng Thống Nixon đang cố xoay sở để gỡ rối cho tình thế nan giải ngay trong nội bộ Hoa Kỳ. Tuy thế, những gì chúng tôi mục kích trong cuộc tiếp xúc với ông lại hoàn toàn khác hẳn: Tổng Thống Nixon là một vị Tổng Thống đang ở vào lúc tột đỉnh của quyền uy. Đây là một vị tổng thống vừa mới tái đắc cử với gần như tổng số phiếu. Khi gặp ông Nixon ở San Clemente, chúng tôi không hề nhìn thấy bất cứ điểm gì có thể gọi là một điềm bất tường báo hiệu những phong ba sắp sửa xảy ra trên trường chính trị ở Hoa Thịnh Đốn. Chẳng một ai trong chúng tôi lại có thể ngờ rằng rồi đây thế đứng của tổng thống Nixon sẽ hoàn toàn khác hẳn với những ấn tượng của chúng tôi về ông ở San Clemente. Lúc đó, ông Nixon không còn có đủ quyền hạn để chu toàn những nhiệm vụ cơ bản nhất, chứ đừng nói đến ủng hộ Việt Nam vốn là một việc đòi hỏi rất nhiều cương quyết và can đảm.

Tại Hoa Thịnh Đốn, chúng tôi gặp phó tổng thống Spiro Agnew, người đứng ra tổ chức bữa tiệc tối để đón tiếp ông Thiệu. Ngay đêm sau đó, ông Thiệu đọc diễn văn ở Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia. Buổi diễn văn diễn ra hoàn toàn tốt đẹp. Ông Thiệu trình bày xuôi chảy vì tôi và ông Nhã đã hì hục suốt cả đêm hôm trước để sửa đổi lại bài diễn văn đã được những nhân viên của ông Thiệu soạn trước cho ông ở Sài Gòn. Chúng tôi đã sửa lại bài diễn văn cho phù hợp với những cử tọa đa nghi ở Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia của Hoa Kỳ. Dĩ nhiên trong buổi nói chuyện của ông Thiệu, cử tọa vẫn có những câu nghi vấn nhưng họ không hề có những câu hỏi có tính cách chống đối quá đáng như tôi đã lo.

Khi ông Thiệu đang ở Hoa Thịnh Đốn thì tình cờ vào lúc đó, ông Haig cũng đang ở Hoa Thịnh Đốn. Chúng tôi nhân dịp mời ông Haig đến tòa đại sứ để trao tặng ông Bảo Quốc Huân Chương của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên tôi có dịp gặp ông Haig sau đợt đàm phán cuối cùng ở Ba Lê. Ông Haig cho biết ông sắp sang Việt Nam. Tin tức tình báo cho thấy đà xâm nhập cùng những kho tiếp vận của Việt Cộng đang ngày càng lan rộng. Tổng Thống Nixon đã ngỏ lời nhờ ông Haig đến xem rõ tình hình hư thực ra sao. Việc ông Haig được tổng thống Nixon gửi đi cũng là một niềm khích lệ đối với Việt Nam. Ông Haig là người hiểu biết, tinh tế và cứng rắn. Khi gửi ông đi, tổng thống Nixon chứng tỏ rằng Hoa Kỳ đã sẵn sàng hành động. Buồn thay, lúc ông Haig trở về để tường trình về những vi phạm trầm trọng của Bắc Việt thì vụ Watergate đã bắt đầu sôi sục và lúc đó Tổng Thống Nixon không còn đủ khả năng để đối phó.

Hai ngày sau khi gặp ông Haig ở tòa đại sứ, chúng tôi bay sang Châu Âu. Tại đây lại một lần nữa ông Thiệu mở Champagne ăn mừng chuyến đi thành công. Không khí ấm áp tỏa ra khắp cả máy bay. Ông Thiệu ngỏ lời cám ơn tất cả chúng tôi đã bỏ sức góp phần vào chuyến viếng thăm. Khi nhìn lại thì có lẽ đây là một trong những cao điểm của mối liên hệ phức tạp giữa tôi và ông Thiệu qua gần một thập niên. Ít nhất là vào lúc này cả hai chúng tôi đều cảm thấy nhẹ nhàng. Ông Thiệu có vẻ như không còn thủ thế, nghi ngờ như trước và tôi thì cũng không đến nỗi phải đè nén những nỗi thất vọng như những năm trước đây. Khi chiếc phản lực cơ 707 vượt qua Đại Tây Dương đêm đó, những tiệc tùng vui vẻ vẫn tiếp tục và vẫn chẳng một ai trong chúng tôi có thể nhìn thấy trước được những diễn biến của vụ Watergate sắp xảy ra trong tương lai. Tôi vẫn chưa nhìn thấy rõ những vụ điều trần mở màn cho việc điều tra vụ Watergate.

Tại Rome, ông Thiệu được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến. Sau đó phái đoàn Miền Nam Việt Nam ở Ba Lê đến gặp chúng tôi để duyệt lại những tiến triển trong cuộc đàm phán liên quan đến việc thực thi hiệp định Ba Lê. Bản tường trình của ông Phạm Đăng Lâm về những cuộc đàm phán thật là thất vọng. Tại Ba Lê, một cuộc nói chuyện tay ba đang diễn ra giữa những người điếc. Những cuộc đàm phán bao gồm những cuộc nói chuyện của Việt Nam Cộng Hòa và Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời, những cuộc thảo luận Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ và những cuộc nói chuyện của Hoa Kỳ và Bắc Việt. Tuy thế, lúc này chúng tôi chẳng còn coi trọng những chuyện đàm phán như trước nữa. Tất cả đều dửng dưng khi ông Lâm nói rằng chẳng có tiến triển gì đặc biệt. Tất cả chúng tôi đều đã cùng đoán trước được điều này. Chẳng hiểu về phía Hoa Kỳ thì ông Kissinger và các phụ tá đã hoan hỉ đến độ nào khi hiệp định Ba Lê được ký kết, nhưng về phía Việt Nam thì tất cả chúng tôi đều đã biết trước câu trả lời cho câu hỏi chính về hiệp định Ba Lê: “Liệu Hiệp Định Ba Lê có đem lại được hòa bình hay không?” Chúng tôi biết rõ rằng câu trả lời của câu hỏi này tùy thuộc vào một câu hỏi khác: “Liệu Hoa Kỳ có trả đủa thích đáng nếu Việt Cộng vi phạm Hiệp Định Ba Lê hay không?” Và chính chúng tôi vừa được nghe Tổng Thống Nixon xác nhận rằng “Có” ở San Clemente.

Tôi bay từ Âu Châu về Hoa Thịnh Đốn vừa kịp lúc con gái tôi làm lễ cưới cùng một sinh viên trẻ cũng cùng học với con gái tôi ở đại học Georgetown. Sau khi lễ cưới kết thúc, tôi cùng nhà tôi lại bay về Sài Gòn. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"