Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

35 – Những Việc Cuối Cùng


Chương 35
Những Việc Cuối Cùng

Nếu nói về phương diện chính trị thì kể từ giữa năm 1973 trở đi, những biến cố bên trong Việt Nam và trên trường chính trị quốc tế sắp sửa ảnh hưởng đến sự sống còn của Việt Nam. Tuy thế, nếu chỉ nói riêng đến đời sống cá nhân thì cuộc sống của tôi lại hết sức thảnh thơi. Mặc dù những vấn đề trong cũng như ngoài nước đang ngày càng phức tạp, nhưng tôi và nhiều người Việt Nam khác vẫn cho rằng đây chỉ là những khó khăn bình thường như những khó khăn ở các giai đoạn bình thường khác trong lịch sử thế giới. Đã đành rằng nếu nói riêng thì ở Việt Nam vẫn có những tệ nạn tham nhũng và bè cánh trong chính phủ và nói chung thì dư luận thế giới vẫn đang xôn xao vì những xích mích giữa các quốc gia ở Trung Đông, nhưng đây không phải là những vấn đề khó khăn mà Việt Nam và thế giới chẳng thể nào giải quyết. Mặc dù lúc đó đã có tin tức về vụ Watergate ở Hoa Kỳ nhưng ở Việt Nam vẫn chưa ai có thể đo lường được vụ Watergate sẽ ảnh hưởng Hoa Kỳ đến độ nào. Và nếu chỉ nói riêng về sự hiện diện của các vấn đề khó khăn trong trường chính trị thì ở Việt Nam, có lẽ chưa có lúc nào tôi và những nhân viên khác trong chánh phủ không phải đối phó với những vấn đề khó khăn hết sức hiểm nghèo. Chẳng hạn như các khó khăn ở Huế hồi Tết Mậu Thân, các khó khăn trong trận tập kích mùa hè năm 1972..v.v. Hơn nữa, lúc nào chúng tôi cũng vượt qua.

Riêng về cuộc sống cá nhân thì lúc này tôi bắt đầu sống cuộc sống của một nhân viên ngoại giao bán phần. Tôi đã trở lại làm việc với tờ Post và tờ Gió Mới. Nhưng cũng cùng lúc này, ông Thiệu bắt đầu mời tôi làm đặc sứ. Tôi được gửi đi nhiều công tác khác biệt ở Á Châu, Âu Châu và Hoa Kỳ. Cuộc sống của tôi lúc này khiến tôi cảm thấy mình có thể làm việc trong một khung cảnh thật dễ chịu. Tôi là một công dân có đời sống cá nhân tự do, nhưng hoàn cảnh cũng đưa đẩy tôi gần gũi với chính phủ và tôi cảm thấy mình vẫn có thể tiếp tục đóng góp ít nhiều vào những điều to tát đáng kể hơn.

Thật ra, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về những gì mà Việt Nam phải làm sau hiệp định Ba Lê và tôi cho rằng việc tôi có thể gặp gỡ ông Thiệu cũng là một dịp tốt để tôi có thể đóng góp ý kiến phần nào vào việc xây dựng quốc gia. Kể từ tháng giêng trước đây, tôi đã bắt đầu soạn thảo một kế hoạch chỉ rõ phương hướng cho các công việc của Việt Nam sau giai đoạn Hiệp Định Ba Lê. Kế hoạch của tôi gồm hai điểm chính: Thứ nhất: Chuyển hướng ngoại giao Việt Nam để tái tạo chính nghĩa cho chính quyền Việt Nam trên trường ngoại giao quốc tế. Thứ hai: Phải cải tổ chính phủ Việt Nam và tìm cách kêu gọi những người quốc gia khác tham gia chánh phủ. Vào giữa năm 1973, tôi bàn luận những ý kiến này với ông Hoàng Đức Nhã và sau đó trực tiếp, thường xuyên hơn với ông Thiệu.

Tôi nói rằng đây là lúc chính phủ Việt Nam nên trực diện với vấn đề Hoa Kỳ rút quân. Bất cứ chiến lược tương lai nào của Việt Nam cũng khó thể tránh khỏi bắt đầu bằng việc Hoa Kỳ rút quân. Tuy vấn đề Hoa Kỳ rút quân quả là một trong những vấn đề bất lợi cho Việt Nam, tôi cho rằng nếu nhìn qua một khía cạnh khác thì đây vẫn có thể là một lợi điểm. Trong suốt cuộc chiến, tôi đã khốn khổ vì sự hiện diện và ảnh hưởng cuả Hoa Kỳ trong mọi lãnh vực. Vào năm 1965, khi còn là Đổng Lý Văn Phòng cho chính phủ của bác sĩ Quát, tôi đã tham gia vào những biến cố dẫn đến việc đổ bộ của lính Hoa Kỳ. Lúc đó, cả tôi lẫn Bác Sĩ Quát đều đã hết sức lo lắng về những ảnh hưởng bất lợi khi để Hoa kỳ đổ quân vào Việt Nam. Sau này, khi là phụ tá cho ông Kỳ, tôi lại đồng ý là sự can thiệp của Hoa Kỳ chẳng qua chỉ là la lemoindre mal, một sự lựa chọn bất đắc dĩ. Nhưng cũng như nhiều nhân vật khác trong các đảng quốc gia, lúc nào tôi cũng lo rằng rồi đây hành động can thiệp của Hoa Kỳ sẽ khiến chính phủ Việt Nam Việt Nam phải chịu nhiều tai tiếng và mất đi rất nhiều chính nghĩa.

Vì thế, tôi nghĩ rằng Hiệp Định Ba Lê có thể là một khúc quanh trong đời sống chính trị của Việt Nam. Dĩ nhiên khi Hoa Kỳ rút đi trong một hiệp định cho phép Cộng Sản Bắc Việt tiếp tục đóng quân ở Việt Nam Việt Nam thì họ đã buộc chánh phủ Việt Nam phải chấp nhận một tình trạng nguy hiểm. Nhưng nếu nhìn vấn đề bằng một quan niệm khác thì việc Hoa Kỳ rút quân có thể được xem như một yếu tố có lợi cho Việt Nam. Khi Hoa Kỳ lui binh, ít nhất chánh phủ Việt Nam cũng có cơ hội vãn hồi lại được một phần những chính nghĩa đã mất đi khi Hoa Kỳ can thiệp. Vấn đề của chúng tôi là làm thế nào để xây dựng và tái tạo lại được những chính nghĩa đã mất.

Vì quan niệm như thế, tôi bắt đầu khai triển một kế hoạch nhằm chuyển hướng ngoại giao của chánh phủ Việt Nam để xóa tan những chỉ trích hiếu chiến và độc tài mà dư luận thế giới đã gán cho Việt Nam, và cũng để xây dựng hình ảnh của Việt Nam như một quốc gia độc lập, có chủ quyền và được cả thế giới công nhận. Muốn áp dụng một kế hoạch như vậy trên phương diện ngoại giao thì chính phủ Việt Nam cần phải tạo được những mối liên hệ tốt đẹp với các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á cũng như trên thế giới.

Vào những năm 1973-1974, chính những cuộc bàn luận với ông Thiệu đã góp phần thúc đẩy tôi thăm viếng các quốc gia khác ở Á Châu như Nam Dương, Mã Lai, Singapore, Ấn Độ, Nhật. Tôi cũng được phái sang Nhật và Anh Quốc để tìm các mối liên lạc và tìm viện trợ. Tại Nam Dương và Mã Lai, tôi đã tạo được những mối giao hảo tốt đẹp với những nhà lãnh đạo như ông Abdul Rahman của Mã Lai và Ngoại Trưởng Adam Malik của Nam Dương. Một trong những điều đáng quan tâm khi tôi cùng các lãnh tụ Đông Nam Á đàm luận là việc họ thường xuyên hỏi han về những cam kết của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Mối ưu tư của họ có thể gồm trong hai điều: 1) Liệu Việt Nam có đứng vững hay không? 2) Liệu Hoa Kỳ có đủ kiên nhẫn tiếp tục giúp đỡ Việt Nam hay không? Theo quan niệm của ông Suharto, tổng thống Nam Dương thì Đông Nam Á cần một Việt Nam vững mạnh để chống cộng sản. Vì thế vai trò của Hoa Kỳ trong việc này vô cùng quan trọng. Ông Suharto quan niệm rằng việc ông Thiệu chống đối là việc hoàn toàn đúng. Ông cho rằng bất kể Hoa Kỳ đã điều đình ra sao, ông Suharto nhận định là vẫn khó thể có một hiệp định hoàn hảo giữa chánh phủ Miền Nam Việt Nam và Bắc Việt.

Tuy thế, đây chỉ là ý kiến mà các lãnh tụ trong khối các quốc gia không liên kết phát biểu trong những cuộc nói chuyện riêng với nhau. Và khi cần phải phát biểu công khai thì họ lại tuyên bố khác hẳn. Ông Malik đã nói với tôi rằng: “Chắc ông cũng rõ là trước công chúng, chúng tôi chẳng thể nào phát biểu như mình suy nghĩ. Chính thật thì chúng tôi cũng chỉ là một quốc gia thuộc khối các quốc gia không liên kết và vì thế chúng tôi phải giữ kín thái độ bên ngoài.” Tuy tôi không gặp trở ngại gì khi trao đổi với ông Malik và những nhân vật khác, tôi vẫn lấy làm lạ vì những thực tế chính trị trên trường ngoại giao quốc tế. Nếu đây là những cuộc gặp gỡ từ hai mươi năm trước có lẽ tôi đã phải sững sờ, nhưng giờ đây tôi chỉ âm thầm ghi lại mà thôi. Tôi đã thấy qua quá nhiều lần và biết rằng đây chẳng qua chỉ là những chuyện hàng ngày.

Riêng ở Ấn Độ thì tôi ít phải đụng chạm với những thực tế trong trường chính trị như ở các nước Nam Dương. Tuy thế, bầu không khí cũng khó chịu hơn. Lúc đầu tôi chỉ bàn luận với những người trong Bộ Ngoại Giao, nhưng rồi tôi cũng không tránh khỏi phải đối diện với bà thủ tướng Indira Gandhi khó tính của Ấn Độ. Những đồng minh quốc tế của Ấn Độ đã xếp nuớc Ấn vào hàng đồng minh với Nga. Và chính Nga cũng đã cung cấp cho Ấn Độ rất nhiều vũ khí. Từ trước tới nay bà Gandhi lúc nào cũng ủng hộ Cộng Sản Bắc Việt. Vì thế, chúng tôi chưa bao giờ có thể sắp xếp để hoàn toàn tiến đến quan hệ ngoại giao với Ấn Độ, nhưng chúng tôi cũng đã có thiết lập một mối dây liên hệ tổng quát qua lãnh sự quán của Việt Nam ở Ấn Độ. Vì tình trạng ngoại giao của Việt Nam đối với Ấn Độ thật là lỏng lẻo và tôi lại đang cố xây dựng lại những giềng mối Ngoại Giao của Việt Nam nên tôi đến Ấn Độ rất thường xuyên. Đất Ấn bao la đã gây cho tôi những ấn tượng hết sức đặc biệt. Dân số Ấn thật là vô bờ và tôi nghĩ rằng những nỗi thống khổ của người dân Ấn Độ có lẽ cũng vượt quá khả năng và giới hạn của con người. Có lần đi ngang qua một nơi ở Ấn Độ, tôi đã thấy hàng ngàn người dân Ấn ăn mặc rách rưới cứ túa ra xúm vào những người du khách để dành dựt những thứ vặt vãnh như bút máy, luợc chải đầu..v.v. Lần đó, tôi đã so sánh những vấn đề khó khăn của Ấn Độ với những khó khăn của Việt Nam. Tôi cho rằng nếu những khó khăn của Việt Nam không đơn giản hơn thì cũng không đến nỗi quá tầm tay với như những khó khăn của Ấn Độ.

Tuy ông Thiệu cảm thấy quan niệm việc thực hiện bang giao với các nước lân cận quả thật không mấy khó khăn nhưng ông lại cảm thấy chật vật khi phải đối diện với vấn đề cải tổ thứ hai mà tôi đã đề ra: Phải thống nhất chánh phủ bằng đoàn kết. Đây chính là quan niệm chính trị mấu chốt nhất của các thành phần quốc giao đã ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim khi trước. Đây cũng chính là quan niệm chính trị của những người đã cộng tác với bác sĩ Quát. Vì chính tôi cũng là người đã tham gia các đoàn thể chính trị này nên quan niệm của tôi cũng chẳng khác gì quan niệm của những người mà tôi đã từng có dịp cộng tác chung. Tôi đã cố gắng duy trì ý kiến về vấn đề cần đoàn kết trong những môi trường chính trị khắc nghiệt của Việt Nam kể từ khi những nhà lãnh đạo quân sự đứng ra thay thế chính phủ của bác sĩ Quát. Qua những chánh phủ quân sự, những nỗ lực tiến đến dân chủ đã bắt đầu phát triển và chứng tỏ một phần thành đạt khả quan để rồi cuối cùng chết hẳn sau cuộc độc cử năm 1971. Tuy thế, quan niệm của một quốc gia đoàn kết, tuyển dụng tất cả những nhân tài chính trị từ mọi đoàn thể vẫn chẳng phải là một quan niệm lỗi thời. Trái lại, vào năm 1973-1974, dường như đây là một đề tài càng lúc càng trở nên cần thiết cho vấn đề sống còn của Việt Nam.

Lúc này, những tình trạng khó khăn bên trong Việt Nam ngày càng gia tăng. Lệnh cấm dầu của Ả Rập ban hành vào mùa thu năm 1973 đã khiến lạm phát tăng vọt lên 50%. Nạn lạm phát cùng những sự giảm thiểu viện trợ của Hoa Kỳ đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam gần như khủng hoảng. Đối với đại đa số dân chúng, việc sinh nhai kiếm sống nuôi gia đình ngày càng khó khăn. Về mặt quân sự thì tin tức tình báo ước lượng rằng vào cuối năm 1973 những cuộc tải quân xâm nhập đã đưa con số binh quân đội Bắc Việt trấn đóng ở Miền Nam Việt Nam lên đến 13 sư đoàn. Các lực lượng này đã dùng các tiểu đoàn và có khi cả trung đoàn liên tục tấn công vào các đơn vị Việt Nam để dò xét phản ứng của Hoa Kỳ. Đầu tiên, vì sợ bị Tổng Thống Nixon trả đủa Hà Nội chỉ tấn công một cách dè dặt, nhưng cứ sau mỗi cuộc tấn công dò dẫm không bị B-52 phản công Hà Nội lại gia tăng tầm mức tấn công. Dần dần những nhịp tấn công trở nên ráo riết.

Khi những đe dọa xã hội, kinh tế và quân sự ngày càng lan rộng, vấn đề cần thiết phải cải tổ đã trở thành hiển nhiên. Chính ông Thiệu cũng biết rằng rất nhiều nhân viên làm việc trong chính quyền ông là những người tham nhũng và thiếu khả năng. Tuy vậy, ông lại không thể kêu gọi ủng hộ và cũng chẳng đủ quyết tâm để tiến hành cải tổ chính phủ. Tuy biết rất rõ những khó khăn và cũng rất thất vọng, ông vẫn chần chừ không chịu giải quyết. Mặc dù thấy rõ Việt Nam cần phải có một chánh phủ đoàn kết và cần phải tận dụng tất cả những tiềm lực của các các đoàn thể chính trị khác, nhưng vì bản tính đa nghi, và cố tật lưỡng lự, chần chờ, ông Thiệu vẫn để mặc cho mọi sự trôi qua. Có lẽ ông tin rằng dù cho chế độ của ông có thiếu khả năng đến đâu đi nữa thì Hoa Kỳ vẫn không thể bỏ rơi ông. Hoa Kỳ đã đầu tư quá nhiều xương máu cùng vật liệu vào Việt Nam. Hơn nữa, những đòi hỏi của chính sách toàn cầu và những lời hứa nghiêm trang của tổng thống Nixon sẽ không cho phép Hoa Kỳ khoanh tay để mặc Cộng Sản nắm phần chiến thắng.

Chính ngay cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao ông Thiệu lại vui lòng nghe tôi nói về những nhược điểm của chế độ Việt Nam và những yêu cầu phải lập tức sửa đổi. Nỗi thất vọng to lớn của tôi là việc ông Thiệu thường đồng ý với những chỉ trích của tôi.

Tôi còn nhớ trong một buổi họp Hội Đồng chính phủ thu hẹp do ông Thiệu đứng ra triệu tập vào tháng 3 năm 1974. Cuộc họp lần đó rơi vào đúng khi tôi sửa soạn đi công cán nước ngoài để tìm viện trợ. Mục đích của buổi họp là để các bộ trưởng trình bày với tôi về tình trạng kinh tế cùng quân sự lúc này rồi sau đó ông Thiệu sẽ cho tôi chỉ thị riêng. Trong những lần họp trước, những buổi họp thường kéo dài cả ngày trời mà vẫn chẳng đi đến quyết định gì cụ thể. Lần họp này cũng vậy, các bộ trưởng vẫn chỉ bỏ thời giờ tranh luận với nhau trong khi Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm ngồi đó mà đầu óc dường như đâu đâu, chẳng hề chú ý gì đến những việc đang xảy ra trước mặt. Quá giận, ông Thiệu đã phải chấm dứt cuộc họp. Khi chỉ còn lại mình tôi, ông Thiệu bày tỏ ý kiến của ông một cách bực tức: “Đó, anh có thấy rằng tôi phải chịu đựng như thế nào chưa?”

Nhưng ông Thiệu không bao giờ có đủ khích động để quyết định. Thay vì hành động, ông Thiệu chỉ đồng ý với những lời chỉ trích thậm tệ của tôi rồi yêu cầu tôi chu toàn công việc này hay công việc nọ. Ông Thiệu hứa rằng ông sẽ đối phó với vấn đề này sau khi tôi trở lại. Có lẽ ông Thiệu có ý muốn nói rằng cơ hội tốt nhất để cải tổ là khi quốc hội Hoa Kỳ đồng ý tăng viện trợ trên các mặt kinh tế và quân sự. Dường như ông Thiệu vẫn chưa hiểu rằng với tình thế Hoa Kỳ lúc này việc tăng viện trợ quả không có chút nào thực tế. Ông Thiệu cho rằng chỉ khi những ủng hộ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam đã hoàn toàn vững vàng, ông mới có thể ra tay hành động quyết liệt. Và lúc đó sẽ là khi ông thật sự cải tổ. Bởi thế, với những chính sách chần chừ, chờ đợi, thời cơ bắt đầu vượt qua ông và qua cả Việt Nam.

Từ giữa năm 1973 cho đến năm 1974, tôi thường xuyên đến Hoa Kỳ, theo dõi các diễn biến ở Hoa Thịnh Đốn và làm tất cả mọi việc có thể làm được để giữ viện trợ khỏi bị cắt bỏ. Tôi theo dõi vụ Watergate với nỗi lo lắng ngày một gia tăng, ngạc nhiên khi thấy những nhân viên của tổng thống Nixon cảm thấy cần phải làm những việc họ đã làm. Lúc đầu tôi còn tin rằng rồi đây mọi việc sẽ được dàn xếp ổn thỏa. Làm sao một việc kỳ lạ thế này lại có thể phá hủy được cả một tổng thống Hoa Kỳ? Nhưng vào mùa thu năm 1973, tôi bắt đầu nhận thấy mức độ trầm trọng thực sự của vấn đề và bắt đầu lo lắng về những hậu quả do biến cố này gây ra. Vào cuối tháng 4, hai nhân viên thân tín nhất của tổng thống Nixon là ông Bob Haldemand và ông John Ehrlichman từ chức. Vào ngày 10 tháng 10, tin tức loan báo việc phó tổng thống Spiro Agnew cũng từ chức. Khoảng hơn một tuần lễ sau đó, ông Ric-hardson và phụ tá ông là ông William Ruckelshaus tuyên bố từ chức khi ông Archibald Cox, công tố viên đặc biệt của vụ Watergate bị đuổi. Việc xảy ra vào lúc tôi đang ở Hoa Thịnh Đốn, cố xin đủ các viện trợ quân sự cho Việt Nam. Hành động của ông Ric-hardson đánh thẳng vào Hoa Thịnh Đốn như một tiếng sét trên chính trường Hoa Thịnh Đốn. Qua rất nhiều ngày thành phố dường như tê liệt; chẳng còn ai để tôi có thể nói chuyện về các vấn đề viện trợ Việt Nam. Chánh phủ Nixon đang ngã quị và khả năng tự vệ của Việt Nam đối với những cuộc tấn công của kẻ thù càng trở nên mong manh bội phần.

Vào tháng 10, quốc hội cho thông qua một đạo luật tổng thống Nixon đã phủ quyết lúc trước, giới hạn quyền lực tổng thống trong việc dùng các lực lượng vũ trang. Lúc này ông không còn đủ quyền lực để nhận lãnh trách nhiệm cho những điều khoản trong hiệp định Ba Lê và cũng chẳng thể chu toàn những lời hứa ông tuyên bố ở San Clemente. Vào đầu năm 1974, tôi đã nhận xét rằng dù cho tổng thống Nixon còn có thể tại nhiệm đi chăng nữa, ông vẫn chẳng thể làm bất cứ việc gì cho Việt Nam như ông đã hứa từ trước.

Tất cả những diễn biến này, tôi đều đã bàn bạc chi tiết cùng ông Thiệu. Đầu tiên ông Thiệu không thể tin rằng một chuyện nhỏ nhặt tầm thường như thế lại có thể ảnh hưởng đến vị tổng thống Hoa Kỳ. Những khi tình thế ngày càng ngặt nghèo, ông Thiệu bắt đầu lo lắng. Vào tháng 3 năm 1974, ngay khi việc tố cáo còn đang tiếp diễn, ông Thiệu đã gửi tôi đến Hoa Thịnh Đốn để thẩm định tình hình và xem xét khả năng viện trợ của Hoa Kỳ. Trong chuyến đi tôi có gặp Phó Tổng Thống Gerald Ford cùng nhiều nhân vật đã từng cộng tác hoặc cho tin tức tôi trước đây. Nhưng những cuộc gặp gỡ quả thực không cần thiết. Dĩ nhiên chẳng cần phải những người có đầu óc tinh tế mới có thể hiểu rằng giữa tấn thảm kịch của chánh phủ Nixon, vấn đề Việt Nam là một vấn đề chẳng ai thèm chú tâm để ý.

Khi trở lại Việt Nam, tôi thấy ông Thiệu hoàn toàn đăm chiêu và ít nói năng. Tuy hiển nhiên là đang gặp khó khăn, ông Thiệu vẫn cố gắng dấu những điều ông suy nghĩ. Tôi tin là trong thâm tâm, ông Thiệu vô cùng hoang mang về cả tầm vóc khủng khiếp của những biến cố đang xảy ra ở Hoa Thịnh Đốn lẫn những hậu quả tai hại theo sau. Lúc này, chính tôi cũng đang hoang mang vì những điều như vậy. Vào ngày 9 tháng 8-1973, ông Thiệu cũng rúng động khi thấy tổng thống Nixon từ chức.

Tuy thế ngay sau đó ông Thiệu lại nhận được một lá thư do tân tổng thống Ford gửi đến như sau: “Tôi tưởng không cần phải viết rõ để thông báo với ông rằng một trong những nét chính của chánh sách Hoa Kỳ là tính cách liên tục của chính sách ngoại giao từ Tổng Thống này qua Tổng Thống khác.” Tổng thống Ford viết rằng: “Hơn bao giờ hết, điều này hoàn toàn đúng vào lúc hiện tại. Những lời cam kết của Hoa Kỳ khi trước vẫn được Hoa Kỳ giữ đúng vào lúc này, dưới chánh phủ của tôi.” Quá vui mừng, ông Thiệu cho mọi người xem lá thư của tổng thống Ford như thể ông đang nắm trong tay một tờ bảo đảm sinh tồn của Việt Nam. Khi nhìn ông Thiệu, tôi phân vân không hiểu trong thâm tâm ông có nhận định được rằng đây là một trong những điều mong manh nhất trong tất cả mọi điều mong manh, hay quả thực ông vẫn mù mờ chẳng thể nhận định rõ được rằng quyền lực của tổng thống Hoa Kỳ lúc nào cũng bị quốc hội kềm hãm?

Nếu tháng 8 quả là tháng của những tin tức đưa đến biến động lịch sử Watergate ở Hoa Thịnh Đốn thì ở Việt Nam, Sài Gòn vẫn tiếp tục chìm trong một bầu không khí phẳng lặng. Chúng tôi biết rõ rằng các lực lượng cộng sản vào lúc này đã thiết lập căn cứ quân sự ở Việt Nam với ý đồ cùng tầm mức khác hẳn những lần trước đây. Cộng Sản đang thiết lập nhiều ống dẫn dầu từ Bắc vào Nam và đang tổ chức một mạng lưới liên lạc quân sự tinh vi. Lúc này Bắc Việt đã chuyển được cả hàng nghìn tấn nguyên liệu chiến tranh về các kho tiếp liệu của cộng sản gần nơi trận địa. Tuy thế, dù đã sẵn sàng về mọi mặt, trung ương đảng Bắc Việt vẫn chưa có quyết định chiến lược nào để mở cuộc tổng tấn công.

Việc từ chức của tổng thống Nixon đã khiến Bắc Việt quyết định táo bạo hơn. Vào tháng 9, các lực lượng cộng sản gia tăng phạm vi các mặt tấn công. Hiển nhiên những lãnh tụ Hà Nội tin rằng một khi tổng thống Nixon từ chức thì những dự định trả đủa chắc chắn phải giảm bớt. Đã hẳn là sự tin tưởng của họ không có gì sai lầm. Nhưng họ vẫn tiếp tục thử. Mùa khô, vốn dĩ là mùa phù hợp cho các cuộc tấn công lớn chỉ còn cách xa vài tháng. Hình như tình thế vẫn chưa đủ căng thẳng, vào giữa tháng 8, bất kể những lời khẳng định trấn an của tổng thống Ford quốc hội lại cố sức tìm cách cắt bỏ những viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam. Một trong những đạo luật cuối cùng của tổng thống Nixon là viện trợ cho Việt Nam 1.1 tỷ đô la. Nhiều ngày sau đó, quốc hội biểu quyết chỉ viện trợ 700 triệu mà thôi. Cuối cùng, vì nhiều chính sách khác biệt của các Bộ Quốc Phòng, số tiền chánh thức nhận được là 400 triệu. Nạn lạm phát cùng giá dầu tăng vọt đã khiến số tiền viện trợ này thật sự chẳng là bao.

Chỉ vài tuần lễ sau khi chánh quyền Nixon sụp đổ, chính ông Thiệu cũng phải đối phó với nhiều cuộc khủng hoảng chính trị ở Việt Nam. Những khủng hoảng chính trị ở Việt Nam khởi đầu là do phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh. Trước đây linh mục Trần Hữu Thanh là người rất gần gũi với ông Ngô Đình Diệm. Phong trào chống tham nhũng của linh mục Thanh khởi đầu vì rất nhiều lý do, bao gồm cả những lý do thực tế lẫn những lý do chính trị. Chỉ trong vòng một tháng, Phong Trào Chống Tham Nhũng đã gây được nhiều ảnh hưởng trong dư luận. Linh mục Thanh tố cáo ông Thiệu, bà Thiệu và những nhân viên trong chính quyền ông Thiệu đúng vào lúc kinh tế đang suy sụp và nạn lạm phát đang ngày càng tăng. Những tầng lớp binh lính, sĩ quan cấp nhỏ, công chức, nông dân và công nhân lúc này đang khốn đốn vất vả. Ngay lúc chống đối, có lẽ phải đến cả 95% những người đang tìm kế sinh nhai bị buộc phải suy nghĩ về vấn đề kiếm sống trong tương lai. Bất kể nguyên do nào khiến họ phải vất vả, phong trào chống tham nhũng của linh mục Thanh vẫn là một nơi khiến họ có thể trút bỏ phần nào những nỗi bất bình mà họ đã phải chịu đựng. Dĩ nhiên một khi linh mục Thanh và nhiều chính trị gia khác đã lên tiếng chỉ trích tệ đoan ở các tầng lớp cao nhất thì những người đang thiếu đủ mọi bề khó thể ngồi yên.

Tuy vấn đề tham nhũng của chính phủ Việt Nam quả là trầm trọng, riêng cá nhân tôi không cảm thấy vấn đề tham nhũng là nguyên nhân chính tạo nên mọi chuyện. Tôi đã từng đi thăm nhiều nơi ở Đông Nam Á và đã mục kích vấn đề tham nhũng ở rất nhiều quốc gia. Nhưng vì hoàn cảnh Việt Nam lúc này đang giữa lúc chiến tranh nên tình trạng tham nhũng đã bị dư luận chỉ trích dữ dội hơn rất nhiều.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Phong Trào chống tham nhũng đã chuyển thành một chỗ phát tiết chẳng những cho các tầng lớp dân chúng mà còn là nơi phát tiết cho những chính trị gia đối lập với ông Thiệu. Kể từ khi ông Thiệu nắm quyền cho đến năm 1971, ông đã tuyển dụng phần đông những tay chân thân tín của ông và vì thế đã gây ra rất nhiều chống đối. Những người chống đối ông lúc này bao gồm cả những người thiên tả, những người trung lập, Phật Giáo, Công Giáo và ngay cả những người cực hữu. Chống đối dường như từ tất cả mọi mặt, và từ tất cả những đoàn thể đối lập. Lúc này, họ nhân cơ hội phát tiết tất cả thất vọng. Gần như tất cả mọi đoàn thể dưới sự lãnh đạo của linh mục Thanh đã biến thành một phong trào chống chính phủ thay vì chống tham nhũng. Mặt Trận Giải Phóng cũng dính líu vào các vụ chống đối và trong những chống đối hàng ngày chẳng ai có thể phân biệt được chống đối nào là do những đoàn thể hợp pháp tổ chức hoặc chống đối nào là do các ổ Việt Cộng bí mật sách động. Chỉ cần liếc nhìn vào tờ báo mỗi sáng cũng đủ thấy cả Miền Nam đang bùng cháy.

Trong khi đó thì bên trong chính phủ của ông Thiệu cũng đã có nhiều thay đổi. Lúc này, ông Hoàng Đức Nhã không còn làm việc trong chánh phủ nữa. Ông Thiệu đã bị áp lực trực tiếp của phía Hoa Kỳ buộc ông phải loại ông Nhã ra khỏi chính phủ. Tuy thế, vì tinh thần họ hàng, nên ông Nhã và ông Thiệu vẫn tiếp tục liên lạc với nhau. Vào cuối tháng 9, khi tôi cùng ông Nhã bàn luận về những sự chống đối đang xảy ra khắp nơi trên đường phố thì ông Nhã hỏi có thể giúp gì ông Thiệu để ra khỏi được cuộc khủng hoảng không? Chúng tôi bàn luận thêm rồi cố tìm cách làm giảm bớt các cuộc chống đối. Câu chuyện đẩy đưa và rồi ông Nhã cho tôi biết ông Thiệu sắp sửa lên đài truyền thanh để thuyết phục dân chúng. Ông Nhã hỏi tôi liệu tôi có thể soạn trước một bài diễn văn cho ông Thiệu được không?

Tôi nghĩ có lẽ đây cũng là một dịp để làm cho tình thế lắng dịu xuống và trả lời rằng nếu cần thì tôi cũng vui lòng góp sức. Cũng như nhiều người khác, tôi hiểu rất rõ những vấn đề tai hại ông Thiệu đã tự mình chuốc lấy khi cô lập hóa những người đầy khả năng có thể là đồng minh hoặc ít ra thì cũng có thể là một nhóm đối lập nhưng vẫn chung thành với ông. Và nếu chỉ nói riêng về chính phủ của ông Thiệu thì dĩ nhiên chẳng ai lại không thấy đa số nhân viên của ông Thiệu chỉ là những người tham nhũng và bất tài. Chẳng những vậy, những phong trào chống đối chính phủ bùng nổ còn cho thấy trong cơn phẫn khích dân chúng đã quên cả vấn đề sinh tử thật mong manh của Việt Nam. Lúc này là lúc Việt Cộng sắp sửa một cuộc tổng tấn công với tầm mức lớn rộng hơn tất cả những lần trước đây. Tôi thấy rõ rằng chính phủ Việt Nam cần phải tìm cách ổn định ngay những cuộc biểu tình chống đối. Và tôi cho rằng ông Thiệu nên kềm bớt phẫn nộ và chú tâm vào những hiểm họa đang kề gần sát sắp sửa phủ chụp xuống Việt Nam.

Để có thể thực sự giải quyết vấn đề, tôi đề nghị là ông Thiệu nên dùng bài diễn văn như một bước đầu tiên của kế hoạch xoa dịu dư luận. Tôi sẽ vui lòng soạn thảo phần diễn văn nhưng chỉ với điều kiện ông Thiệu phải thực thi những điều ông nói. Ông Nhã cho là chắc chắn ông Thiệu sẽ thỏa thuận, nhưng ông đề nghị tôi nên nói chuyện với Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống, Đại Tá Võ Văn Cầm trước. Khi nói chuyện với ông Cầm thì ông Cầm cũng hứa sẽ hết sức.

Tối đó, tôi bắt đầu soạn thảo diễn văn cho ông Thiệu. Đây chẳng qua là một bài diễn văn tôi đã dùng đi dùng lại nhiều lần trong rất nhiều năm. Tôi chuyển bài diễn văn cho hợp với tình trạng chống đối ở Sài Gòn lúc này:

Tuy tôi không hoàn toàn chấp nhận tất cả những lời lẽ buộc tội của linh mục Thanh và những người đối lập, tôi quả có nhận biết những tệ đoan trong chánh phủ và tôi nhận rằng việc đương đầu với những vấn đề này thật là cần thiết. Tôi vui lòng cùng các ông ngồi lại để bàn luận những cách ngăn ngừa tệ trạng. Nhưng tham nhũng không phải là vấn đề chính mà chúng ta cần đương đầu vào lúc này. Vấn đề chính mà chúng ta cần đương đầu vào lúc này còn trầm trọng hơn vấn đề tham nhũng. Đây là vấn đề sinh tử của quốc gia chúng ta. Như thế, tôi xin chúng ta cùng ngồi lại với nhau, nhưng không phải ngồi lại với nhau trong tư thế chánh phủ và những người đối lập mà là ngồi lại với nhau trong tư thế của những người yêu nước tuy có đang bất đồng ý kiến mà vẫn tạm dẹp hiềm khích cá nhân sang một bên vì quốc gia đang ở vào giờ phút sinh tử.

Theo tôi nghĩ thì đây chỉ là một lời mở đầu, chưa có gì cụ thể nhưng là một bước tiến quan trọng trong kế hoạch làm dịu bớt căng thẳng cũng như đưa ra vấn đề chính cần thiết cần được bàn luận.

Vài ngày trước, tôi đã chuyển cho đại tá Cầm bản diễn văn do tôi soạn thảo. Nhưng sau đó, tôi vẫn chưa hề nghe tin gì cả. Buổi tối hôm ông Thiệu đọc diễn văn là lúc tôi đang dùng bữa tối ở nhà một người bạn. Ông Thiệu đang nói chuyện với cả nước nhưng không phải bằng những ngôn từ tôi đã soạn cho ông. Thay vì tìm cách hòa hoãn, nhìn nhận vấn đề rồi từ đó tiếp tục bước tới, ông Thiệu bỏ thẳng vấn đề. Thay vì nói chuyện với những nhân vật đối lập, ông lại nói về Cộng Sản. Ông nói về những người cộng sản đang chống đối ông, về những người cộng sản đang đứng sau giật giây tất cả mọi chuyện. Thay vì chấp nhận chia xẻ một phần trách nhiệm và vui lòng thảo luận với các đoàn thể trong nước, ông Thiệu lại quyết định né tránh vấn đề.

Khi nghe bài diễn văn, tôi nghĩ thầm rằng có lẽ ông Thiệu đã cho mình là trung tâm của vũ trụ, đã tin rằng chính ông đang mang thiên mệnh. Nhìn ông Thiệu trên Ti Vi tôi thấy dường như ông không hề biết rằng ông đang nói chuyện cùng dân chúng cả nước. Dường như ông Thiệu đã mất hết thăng bằng, có lẽ những năm nắm giữ uy quyền đã khiến ông trở nên mê muội. Ông đã không hiểu những biến cố xảy ra ở Hoa Kỳ và giờ đây chính tôi tận mắt mục kích ông cũng không hiểu nổi chính cả những vấn đề đang xảy ra ngay ở Việt Nam. Nhìn ông Thiệu trên màn truyền hình tôi không khỏi ngột ngạt khi thấy rằng dù đang lúc thập tử nhất sinh mà ông Thiệu vẫn chẳng thể phóng tầm nhìn lên trên những vấn đề uy quyền cá nhân. Quan niệm của ông chỉ là quan niệm của một người làm chính trị, cố theo đuổi và giữ chặt quyền lực. Ngay cả khi kẻ thù đã đến cận kề, sửa soạn nuốt chửng tất cả mà ông Thiệu vẫn chưa nhận thấy ông phải đoàn kết với những đoàn thể đối lập để chống lại kẻ thù chung. Có thể ông Thiệu đã từ chối giải pháp đoàn kết vì ông thấy rằng ông không đủ tài để đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi. Thản hoặc có thể nhãn quan của ông đã khước từ không nhìn nhận những biến cố sắp sửa xảy ra.

Từ tháng 9-1974 cho đến tháng giêng năm 1975, những vấn đề xích mích nội bộ của Sài Gòn đã làm kiệt quệ tất cả sinh lực và chuyển cả hướng chú tâm của người dân Việt Nam. Miền Nam Việt Nam đã quên hẳn những hiểm họa đang rình rập đón chờ. Chánh phủ đã ngoan cố không chịu thương lượng, những nhóm đối lập lại quá mù quáng không thể nhìn thấy hiểm họa chỉ như mảnh treo chuông. Đa số những người dân Sài Gòn chỉ còn nghĩ đến cách kiếm cơm ngày hai bữa và quá bận rộn vì việc sinh nhai, không thể suy nghĩ về bất cứ vấn đề gì khác. Thật sự thì Sài Gòn đã đứng gần bên bờ vực sụp đổ vì những áp lực bên trong.

Ngay trong lúc Việt Nam đang kiệt lực thì các lực lượng Cộng Sản mở cuộc tấn công vào giữa tháng 12-1974. Sau ba tuần chiến đấu cam go, Phước Bình đã lọt vào tay Cộng Sản. Các lực lượng Việt Nam không hề phản công. Tại Hoa Thịnh Đốn, chánh quyền Ford cũng chẳng có hành động gì chứng tỏ Hoa Kỳ sẽ ra sức giứp đỡ. Khi chiến cuộc ngày càng lan rộng, tôi bắt đầu thấy mình đang bị dằng co giữa hai tâm trạng hoàn toàn trái ngược. Một mặt thì tôi đã thấy và hiểu rõ những gì đang xảy ra. Nhưng mặt khác, tôi lại không thể chấp nhận những điều trông thấy. Tôi cứ tự trấn an một cách giả dối rằng vấn đề khó khăn lần này chẳng qua cũng giống như vấn đề khó khăn của những lần trước đây, và rồi đây bằng cách nào đó Việt Nam cũng sẽ ổn định trở lại. Nói cho cùng thì chúng tôi cũng đã mục kích nhiều rồi. Chúng tôi đã mục kích Tết Mậu Thân, chúng tôi đã tái chiếm Huế. Chúng tôi đã cầm cự trong khung cảnh khốc liệt của An Lộc. Chúng tôi đã tái chiếm lại được Quảng Trị. Có những lần tưởng như đã đến bước đường cùng mà chúng tôi lại vẫn vượt qua được. Lần này thật ra có gì lấy làm khác biệt?

Tết năm 1975 rớt vào ngày tháng giêng. Ngay trước ngày tết, ông Thiệu lại phái tôi sang Ấn Độ để xiết chặt mối bang giao với Ấn Độ. Tôi cũng chẳng còn nhớ là mối bang giao nào cần phải xiết chặt vào lúc này nữa. Nhưng bất kể mối bang giao đó là gì, nhà tôi vẫn nhất quyết không cho tôi rời nhà vào ngày Tết đầu năm. Nhà tôi lý luận là tôi phải ở nhà để cùng ăn Tết với gia đình. Hơn nữa, nhà tôi còn nói thêm rằng chắc tôi cũng đã biết ngày đầu năm sẽ là ngày định đoạt may rủi cho suốt cả năm. Nếu vào ngày đầu năm mà tôi lại đi gặp người ngoại quốc thì trong năm còn biết may rủi thế nào được nữa?

Cuối cùng tôi nói với ông Thiệu vụ ngoại giao ở Ấn Độ sẽ phải hoãn lại; tôi sẽ đi khi sau Tết. Tôi ở lại Sài Gòn cho tới tận mãi tháng 2. Khi tôi trở lại thì một tháng mới đã lại bắt đầu. Đợt tấn công thứ nhì của Việt Cộng đã khởi đầu với những cuộc tấn công của nhiều sư đoàn vào vùng cao nguyên Ban Mê Thuật. Ban Mê Thuật bị tấn công bất ngờ và chỉ hai ngày sau đã lọt vào tay quân địch. Quân đội Việt Nam đã rút lui khỏi Ban Mê Thuật. Có lẽ bất kỳ một người nào khác thực tế hơn tôi cũng phải nhìn thấy ngay rằng đây là những giây phút cuối của Việt Nam. Tôi còn đang chưa biết phải làm gì thì vài ngày sau ông Thiệu cho gọi tôi vào để bàn luận về một sứ mạng cuối cùng. * * * * *

Sứ mạng bất thành của tôi ở Hoa Thịnh Đốn kết liễu vào ngày 11 tháng 4 năm 1975, khi quốc hội bỏ phiếu khước từ việc gửi viện trợ khẩn cấp sang cho Việt Nam. Ba ngày sau ký giả Bob Shaplen gọi tôi. Ngày 17-4 tôi trở lại Sài Gòn, vừa kiệt sức vì cơn cảm cúm vẫn còn hoành hành, vừa bàng hoàng vì những biến cố xảy ra trong tuần trước. Khi gọi ông Thiệu ở văn phòng thì chánh văn phòng của ông Thiệu là ông Võ Văn Cầm nhắn rằng: “Tổng Thống đang xúc động vì mất Phan Rang. Tổng Thống nhắn rằng xin ông đại sứ để Thủ Tướng tiếp xúc với ông đại sứ trước, rồi sau đó Tổng Thống sẽ tiếp xúc với ông đại sứ sau.” Thế là thay vì trực tiếp tường trình mọi chuyện với ông Thiệu, tôi lại được lệnh tường trình với các phụ tá của ông Thiệu trong một buổi họp chính phủ thâu hẹp.

Cuộc họp thật là ngắn ngủi và căng thẳng. Vài ông Bộ Trưởng bàn luận về việc có thể tiếp tục chiến đấu bằng cách thu quân về vùng đồng bằng Cửu Long và trấn thủ tại đó. Nếu đồn trú đủ lớn và cơ hội trấn thủ vững vàng thì Hoa Kỳ có gửi viện trợ không? Tôi nói với họ rằng “Vì mới về, tôi chưa được rõ tình hình trong nước nhưng đối với Hoa Kỳ thì mọi sự hoàn toàn kết thúc. Việt Nam sẽ chẳng nhận được bất kỳ loại viện trợ nào cả.” Chắc chắn sẽ không có viện trợ gì thêm, không súng ống, không đạn dược, không thủy quân lục chiến, hoàn toàn không có gì. Họ ngồi đó, đắm chìm trong im lặng theo những suy tưởng riêng tư. Chẳng ai còn có đủ nghị lực để phá tan bầu không khí yên tĩnh của căn phòng.

Tại phòng họp tôi gọi tòa đại sứ Hoa Kỳ và được đại sứ Graham Martin mời đến gặp ông tức khắc. Từ trước tới nay ông Martin vốn vẫn là người lạc quan về khả năng thuyết phục của ông đối với Quốc Hội Hoa Kỳ. Trên đường tới gặp ông, tôi thắc mắc chẳng hiểu trong tình thế này thì một người lạc quan như ông Martin sẽ phát biểu gì. Vì là đại sứ, ông Martin tin là ông có thể giúp đỡ Việt Nam và hoàn thành được sứ mạng của ông là giữ được Việt Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản. Ngay cả trong những lúc hiểm nghèo nhất, dường như ông vẫn tin tưởng sứ mạng của ông rồi đây sẽ thành công. Mặc dù mối giao hảo giữa ông và ông Thiệu không mấy đằm thắm, đại sứ Martin vẫn ủng hộ ông Thiệu mạnh mẽ và đều đặn; có lẽ chẳng ai không cảm thấy rằng ông Martin đã chủ quan đến độ gần như không còn thực tế.

Tuy nhiên lúc này, khi phân nửa lãnh thổ của Việt Nam đã rơi vào tay Bắc Việt và chính phủ vẫn không hề có giải pháp nào khác để ngăn chận bước tiến kẻ thù, ông Martin đã thay đổi hoàn toàn. Trông ông xanh xao tiều tụy và đầy vẻ lo âu. Ông Martin hỏi tôi rằng: “Ông đã gặp ông Thiệu chưa?” Chính đại sứ Martin cũng chưa gặp ông Thiệu mấy lúc gần đây. “Tình trạng thật là trầm trọng. Không ai tại Sài Gòn, kể cả những nhân vật trong giới quân sự còn cho rằng ông Thiệu có thể tiếp tục làm tổng thống.” Bất kể nguyên do sợ hãi của ông là gì, đại sứ Martin vẫn tránh bàn luận những vấn đề liên quan đến việc mất Việt Nam. Ông chẳng lượng định tình hình mà cũng không hề có kế hoạch gì thiết thực trong giai đoạn cuối cùng này. Ông chỉ muốn nói về ông Thiệu. “Ông Thiệu không còn có thể đứng vững -Ông Thiệu phải được báo cáo về việc này.” Ngay cả vào lúc này mà ông Martin vẫn còn tin tưởng có thể tìm cách điều đình để ổn định tình thế với Bắc Việt. Ông Martin nói với tôi rằng: “Ông phải báo cho ông Thiệu biết rõ sự thật. Nếu cần chính tôi sẽ đến gặp ông Thiệu nhưng ông có thể nào gặp và nói rõ với ông Thiệu rồi liên lạc với tôi sau đó được không?”

Tôi rời tòa đại sứ và tự hỏi chẳng hiểu tại sao đến giờ phút này mà ông Martin vẫn tin rằng hãy còn những giải pháp chính trị có thể dùng ổn định tình hình, ngay dù chỉ là những giải pháp ngụy trang cho việc đầu hàng. Vài ngày sau, tôi thấy rằng nếu quả thật đại sứ Martin có suy nghĩ sai lầm thì ông cũng không phải là người độc nhất suy nghĩ theo chiều hướng sai lầm đó. Nhiều người khác, từ các nhà chính trị Việt Nam cho đến những viên chức ngoại quốc nhất là Pháp. Mọi người đều có vẻ thiên về chuyện điều đình. Bầu không khí sôi sục trở nên một đề tài cho những ý niệm vô nghĩa xa vời nhất. Vì đã chống ông Thiệu và ủng hộ giải pháp thương lượng cùng Bắc Việt, vài chính trị gia trong các “lực lượng thứ ba” thật sự tin tưởng rằng họ có thể là một nhịp cầu hòa giải giữa hai miền Nam, Bắc. Đã có nhiều người cho đây là một cơ hội để tạo danh tiếng, một cơ hội để làm bộ trưởng hoặc một chức vụ nào đó cao hơn nữa trong một chánh phủ “tạm thời.” Dù chỉ là trong khoảng thời gian một hai ngày.

Trong giới ngoại giao ở Sài Gòn thì các nhà ngoại giao Pháp nổi bật nhất với đề nghị của họ là: “Đàm phán để ổn định tình hình.” Những đề nghị của họ một phần là để lấy lại những uy tín đã mất trước đây trong những năm Việt Nam chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ và một phần cũng để sửa soạn cho họ những cơ hội tốt đẹp khi chiến tranh kết thúc. Hơn nữa, những đề nghị của họ cũng là do họ được Hà Nội khích lệ, vị đại sứ Pháp đã công khai đề nghị một giải pháp chính trị để kết thúc thù hận Nam, Bắc. Nhưng khi cố gắng đóng trọn vai trò “trung gian ngay thẳng,” đại sứ Jean-Marie Merrillon đã vô tình giứp Hà Nội dồn Việt Nam vào thế bí và đánh lừa dư luận Hoa Kỳ trong lúc Việt Nam đang cố gắng tìm một giải pháp khác với chánh quyền ông Thiệu.

Tuy thấy rằng những nhà ngoại giao Pháp có thể dựa vào những đề nghị thương lượng để củng cố cương vị cho Pháp, tôi vẫn chẳng hiểu vì sao đại sứ Graham Martin lại có thể cùng suy nghĩ giống họ. Tôi gặp vị đại sứ Hoa Kỳ thêm một lần nữa vào thứ sáu ngày 18 tháng 4 và nói chuyện cùng ông trên điện thoại vào ngày thứ bảy. Ông Martin muốn hỏi rằng tôi đã gặp ông Thiệu hay chưa? Tôi vẫn chưa hề gặp ông Thiệu. Tuy tôi đã nhờ cả đại tá Cầm cùng tướng Trần Văn Đôn lúc này mới được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng quốc phòng nhắn lời mà ông Thiệu vẫn hoàn toàn im lặng. Sau khi nghe tôi thông báo, ông Martin kết luận: “Nếu vậy thì chính tôi phải đến gặp ông Thiệu.”

Những ngày sau đó, tôi về lại chỗ ở thuê của tôi cố dành thời giờ thu xếp tất cả mọi chuyện. Chẳng hiểu bằng cách nào đó, một hệ thống máy in tôi đặt mua cho tờ Saigon Post từ cả năm về trước bỗng nhiên lại được chở đến. Thời gian lúc này cứ trôi qua vun vút, tôi dành đa số thời gian vào việc nói chuyện cùng những bạn bè và họ hàng đang lũ lượt kéo đến chật cả chỗ tôi ở. Người nào cũng nóng lòng hỏi thăm tin tức hoặc xin ý kiến. Tôi đã phải lập đi lập lại câu chuyện không biết bao nhiêu lần: “Đối với Hoa Kỳ thì cuộc chiến đã kết thúc và đối với chúng ta cuộc chiến cũng đã kết thúc.” Mỗi lần tôi nói phản ứng của họ đều giống hệt như nhau. Đầu tiên họ lộ vẻ sững sờ -có nhiều khuôn mặt tôi đã quá quen thuộc- như thể họ chẳng thể tin được mức độ tàn nhẫn của sự thật. Sau đó họ yên lặng và cuối cùng họ gục đầu ra về, đắm chìm trong trầm mặc suy tư. Có lẽ họ đang nghĩ về gia đình và chính bản thân của họ. Những khoảng thời gian rảnh rỗi còn thừa lại tôi dùng vào việc thu xếp đồ đạc. Tôi lục đục mãi cho đến thật khuya, đọc kỹ lại những giấy tờ, những sưu tầm của cả một cuộc đời, đốt đi một ít và quyết định mang đi những giấy tờ còn lại.

Vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, ông Thiệu từ chức. Tôi đã đoán trước được việc này; Tôi biết đại sứ Martin đã nói chuyện với ông Thiệu và ông Thiệu chẳng còn đường nào khác. Nhưng khi xem ông Thiệu trên màn truyền hình, tôi vẫn sững sờ. Cũng có thể tôi đã cảm thấy vậy vì quá kiệt quệ cả vật chất lẫn tinh thần. Tôi lắng nghe khi ông Thiệu nói loạn xạ về ông Kissinger, về Hoa Kỳ và về những đàm phán có thể xảy ra, nửa khóc nửa cười trong cùng một lúc. Trong một giây phút ngắn ngủi, đầu óc tôi bỗng dưng tràn ngập suy nghĩ về những cảnh vô chính phủ sau khi ông Thiệu từ chức. Nhưng giây phút ngắn ngủi đó trôi qua thật nhanh. Khi hình ảnh của ông Thiệu biến mất trên màn truyền hình, tôi chỉ có thể nghĩ về một điều duy nhất: Thời cuộc đã đến hồi kết thúc.

Lúc này là lúc bắt buộc phải ra đi vì quân đội Việt Cộng đã sát gần Sài Gòn và tôi phải sửa soạn rất nhiều nếu tôi muốn mang theo mẹ và chị tôi đi. Vô hình chung, tôi đã chống đối ý niệm ra đi trong tiềm thức. Tôi đã cố đè nén những suy luận thực tế rằng nếu càng ở lâu lại càng phải xoay sở khó khăn hơn vào lúc ra đi. Tôi bước ra khỏi căn gác ngột ngạt để hít lấy ít không khí thoáng mát bên ngoài mà cũng là để nhìn lại thành phố một lần cuối. Khi đi bộ qua đường Nguyễn Huệ, tôi thấy người ta vẫn còn mua hoa ở các quầy bán đứng bên đường và tự hỏi làm sao họ còn có đủ bình thản trong tâm hồn để mua hoa vào lúc này. Tôi hít sâu vào bầu không khí của Sài Gòn lúc đó chẳng khác nào một du khách đang cố tìm ra những nét đặc biệt của nơi chốn mình viếng thăm. Tôi hít sâu như thể đang cố giữ lấy để về sau còn có thể nhớ lại những nét đặc biệt của khung cảnh lúc này.

Chuyến đi cuối cùng của tôi cũng là nhờ đại sứ Martin tự tay sắp xếp. Ngay lúc đầu tiên, ông đã ngỏ ý giúp tôi. Lúc này, khi tôi gọi lại báo rằng mọi sự đã sẵn sàng, ông lập tức thu xếp cho tôi cùng mẹ và chị tôi đáp chuyến máy bay của Hải Quân sang thẳng Bangkok, rồi từ Bangkok lộ trình của chúng tôi được sắp xếp để chúng tôi có thể đến Hoa Thịnh Đốn bằng một chuyến bay thương mại. Ngày đó, tôi bỏ thì giờ hỏi thăm bạn bè, phần đông tôi chắc chắn sẽ chẳng bao giờ gặp lại. Tôi nhìn quanh nhà lần cuối rồi đưa chìa khóa cho chị người làm. Đêm cuối cùng tôi thức trắng, bỏ thì giờ khuyên mẹ tôi, lúc này đã chín mươi tuổi rằng đây là lúc phải lên đường bỏ lại nhà cửa và tất cả. Tôi cũng xem lại các giấy tờ một lần nữa, đốt thêm một ít, gói phần còn lại vào một chiếc va li lớn. Tôi nhét đầy những hình ảnh gia đình và một số tài liệu riêng trong một chiếc vali nhỏ hơn.

Trưa hôm sau, ông Joe Bennet, cố vấn chính trị ở tòa đại sứ Hoa Kỳ đến đưa chúng tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất, nơi một chiếc máy bay nhỏ đang đợi chúng tôi ngoài phi đạo. Tôi cùng mẹ và chị mang hành lý vào bên trong cùng nhau đợi suốt một giờ trước khi máy bay cất cánh. Cuối cùng máy bay chuyển bánh trên phi đạo và chỉ vài giây sau, chúng tôi đã ở trên không, nhìn Sài Gòn cùng các vùng ngoại ô lướt đi ngay phía dưới.

Khi những luống cây xanh của vùng đồng bằng Cửu Long hiện ra phía dưới, tôi đã rướn mắt để nhìn rõ những cánh đồng chiêm cùng những con kênh ngang dọc tạo thành những khung bàng bạc trải khắp vùng đồng bằng. Tự dưng buồn bã trào dâng như uất nghẹn. Nước mắt tôi làm mờ dần những hình ảnh thân yêu đang lướt xa phía dưới.

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"