Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

10 – Mùa Nghỉ Alpine


Chương 10
Mùa Nghỉ Alpine

Kể từ năm 1951, cuộc sống tương lai của tôi vẫn hoàn toàn bấp bênh. Tuy đã biết ông Bảo Đại là người thụ động, tôi vẫn gạt bỏ những suy nghĩ bi quan của ông chú tôi và những quan niệm khách quan của ông thân để lao hết mình vào các hoạt động chính trị.

Đầu tiên chúng tôi nỗ lực hoạt động để thiết lập một tổ chức chính trị mới. Tuy lúc này phần lớn tinh thần và nhiệt tâm của Đại Việt đã phục hồi nhưng dường như guồng máy điều hành đã chết hẳn. Chúng tôi cố kết hợp để tìm cách chấn chỉnh lại những tổ chức của đảng Đại Việt ở miền Bắc trước kia. Nỗ lực của chúng tôi đưa đến việc thiết lập một mặt trận quốc gia dân chủ lấy tên là Quốc Gia Bình Dân. Tờ báo của mặt trận lúc này là tờ Quốc Dân do tôi làm chủ bút.

Đối với tôi đây quả là giai đoạn bận rộn vô kể. Tôi phải tìm người cộng tác cho tờ báo, phải viết bài bình luận, phải trông coi việc xuất bản, phải sắp xếp những cuộc hội họp, bàn luận, và phải trông coi đến cả việc quảng cáo. Tờ báo là cơ quan ngôn luận của đảng. Tôi hãnh diện vì có dịp được đứng vào vị trí bênh vực đường lối của đảng, chống lại chủ nghĩa cộng sản và cổ võ những cuộc tranh đấu đòi hỏi Pháp phải giao trả độc lập. Tuy thỉnh thoảng chính phủ cũng có buộc chúng tôi phải dùng những danh từ nhẹ nhàng hơn nhưng chẳng hiểu sao phần nhiều những cuộc kiểm duyệt của chính phủ lại chẳng bao giờ đả động gì đến việc chúng tôi lúc nào cũng đòi hỏi “tự do lập tức.”

Trong khi tờ báo xuất bản những mục bình luận và đòi hỏi dữ dội việc trao trả độc lập, tôi còn có cơ hội mục kích những thủ đoạn chính trị của ông Bảo Đại. Ngay lúc tôi đang loay hoay xoay sở cho tờ Quốc Dân thì ông Bảo Đại cũng đang âm thầm vận động để đòi độc lập. Tuy tôi đã nhìn thấy những khuyết điểm của ông Bảo Đại qua những lần gặp trước, đây mới là lúc tôi bắt đầu nhận chân được khả năng của ông. Cách vận động của ông Bảo Đại cho thấy ông chẳng những là một ông vua Á Châu đã hiểu biết chính trị thấu triệt mà còn có tài điều động người khác rất tự nhiên. Lúc này ông Bảo Đại đang tận dụng sở trường của mình để đương đầu với Pháp. Khả năng thiên phú của ông là tài vận động chính quyền, hoặc có lẽ đúng hơn là tài vận động các tổ chức của chánh quyền. Cách vận động của ông phần lớn dựa trên những nhận xét chính trị sắc bén cùng những nhận xét tinh tế của bản thân ông. Bất kỳ lúc nào ông Bảo Đại cũng có thể nhận rõ đích xác được tầm mức giới hạn của việc thúc đẩy Pháp. Ông là quốc trưởng do đó ông có quyền lựa chọn thủ tướng. Theo quan niệm của ông Bảo Đại thì cách chọn thủ tướng phải ăn khớp với các giai đoạn đàm phán.

Nói chung thì cách vận động của ông Bảo Đại là tìm mọi cách để gia tăng áp lực với Pháp. Trong giai đoạn đầu, ông Bảo Đại muốn chọn một thủ tướng có thể hợp tác gần gũi với Pháp. Nhiệm vụ của vị thủ tướng đầu tiên là thiết lập những quan hệ hợp tác giữa Pháp và chánh quyền Việt Nam sao cho tất cả mọi việc đều hướng theo ý muốn của ông. Sau đó giai đoạn đàm phán thứ hai lại phải cần những thay đổi khác trong chính phủ. Chẳng hạn như khi đàm phán những vấn đề khó khăn như vấn đề độc lập thì phải có những thủ tướng cứng rắn, cương quyết. Mặt khác, nếu cần phải rút lui để đổi chiến thuật thì lại phải tìm những thủ tướng mềm dẻo, uyển chuyển cho phù hợp hơn với chiến thuật. Càng quan sát cách ông Bảo Đại chọn thủ tướng, tôi lại càng tin chắc ông đã soạn sẵn danh sách của một số thủ tướng nhằm đưa ra đúng lúc những nhân vật có thể đáp ứng được những đòi hỏi của ông ở những giai đoạn sau. Chẳng những thế, ông Bảo Đại lại còn chọn thủ tướng dựa trên một nguyên tắc khác nữa: Ông thường sắp xếp Nội Các để các thủ tướng không thể dùng uy quyền bản thân chế ngự được Nội Các. Ngoài thủ tướng, lúc nào ông Bảo Đại cũng cố ý đặt thêm một nhân vật quốc gia khác có cả thực quyền lẫn óc tự chủ trong chánh phủ. Nhân vật này sẽ hoạt động cho hai mục đích: Thứ nhất, vì có óc tự chủ ông ta khó thể nhắm mắt tuân theo mọi mệnh lệnh của thủ tướng. Thứ hai, vì có thực tài, ông ta có thể tiếp tục điều hành chính phủ mỗi khi thủ tướng bị thay đổi và như thế sẽ giữ cho các chánh sách của chánh phủ được liên tục.

Mỗi lần ông Bảo Đại thay đổi chánh quyền là mỗi lần các đảng phái quốc gia lại bàn cãi sôi sục. Những câu hỏi chính thường là: “Liệu có nên theo về với chính quyền mới hay không? Liệu chánh phủ mới có đủ cơ sở cho họ hợp tác không, hay hợp tác sẽ chỉ làm hư hao uy tín của đảng? Liệu có nên để người vào tham gia trong mọi chánh phủ không? Liệu ông Bảo Đại đang có dự định gì khi thay đổi chính trị trong lần này?” Nhưng bất kể họ quyết định ra sao thì các đảng viên vẫn cứ bị thay đổi liền liền trong chính phủ Bảo Đại. Trong những chính khách quốc gia bị thay đổi lúc bấy giờ có cả Bác Sĩ Quát và ông Trần Văn Tuyên là giáo sư đã dạy tôi trước đây.

Trong chánh quyền đầu tiên của ông Bảo Đại thì Bác sĩ Quát, người nổi bật nhất trong nhóm chúng tôi, được cử làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục. Trong chánh phủ thứ hai, ông lại được cử làm Tổng Trưởng Quốc Phòng. Có lẽ vì vấn đề chính cần đàm phán lần này là vấn đề phải có một quân đội Việt Nam hoàn toàn không phụ thuộc quân đội Pháp nên cương vị của Bác Sĩ Quát thật là quan trọng. Vấn đề đàm phán lần này quả là nan giải. Một mặt thì người Pháp biết rõ chánh phủ Miền Nam cần phải có một quân đội riêng. Mặt khác, họ lại tin rằng nếu Việt Nam có quân đội riêng thì chính quân đội Việt Nam sẽ là một mối đe dọa đối với chính quyền thực dân Pháp. Về phía Việt Nam thì đương nhiên chánh phủ Bảo Đại cố hết sức làm áp lực để có thể tự thiết lập quân đội riêng. Giữa lúc đàm phán Pháp-Việt đang dằng co thì một biến cố khác lại kéo tôi ra hẳn bên ngoài những hoạt động chính trị Việt Nam. * * * * *

Khoảng một năm về trước, tôi đã thành hôn với người thiếu nữ tôi gặp trước đây khi tôi còn ở nhà ông chú và rồi lại có dịp gặp vào lúc sau này ở Phát Diệm. Khi tôi về Hà Nội thì gia đình cô cũng đã chuyển từ khu công giáo Phát Diệm về Hà Nội. Ở Hà Nội chúng tôi lại tiếp tục gặp gỡ tuy rằng cả hai chúng tôi vẫn chưa hề nghĩ gì đến vấn đề thành hôn. Ngày nọ, bỗng nhiên chẳng rõ vì lý do gì, ông chú tôi bỗng hỏi riêng tôi rằng: “Tôi đã để ý đến thiếu nữ nào chưa?” Ông muốn biết xem ai là người tôi nghĩ có thể là nhà tôi sau này? Mới đầu tôi trả lời rằng: “Chưa có ai cả,” nhưng chỉ vài ngày sau ông chú tôi lại nhắc đi nhắc lại vấn đề. Tuy tôi chưa rõ ông chú tôi suy nghĩ ra sao nhưng những điều ông nài nỉ đã bắt đầu làm tôi chú ý. Tôi cho rằng có thể có vấn đề gì đó và biết đâu đã đến lúc tôi nên suy nghĩ đến chuyện lập gia đình? Dầu gì đi nữa tôi cũng đã 28 tuổi và nếu đời sống tôi chưa hoàn toàn bình thường hẳn thì ít ra tôi cũng chẳng còn phải trốn tránh ở những nơi hẻo lánh hoặc lúc nào cũng phải lăm lăm thủ thế với khẩu súng lục sát lưng nữa. Cuối cùng tôi thú thực rằng tôi có nghĩ đến một người là cô Kim Ngọc, một thiếu nữ tôi đã gặp nhiều năm trước đây. Nếu tôi có lập gia đình thì cô ta sẽ là người tôi chọn.

Khi nghe tin chú tôi vô cùng hân hoan. Ông có quen với gia đình cô và hoàn toàn đồng ý sự lựa chọn của tôi. Trước khi tôi biết rõ mọi sự cô tôi đã lên đường qua nhà cô Kim Ngọc để chánh thức dạm hỏi. Ít lâu sau, chú tôi sắp xếp và giữ kín mọi sự.

Nếu biết rõ câu chuyện thật đã thúc đẩy ông chú tôi chú ý đến việc hôn nhân của tôi có lẽ tôi còn ngạc nhiên hơn. Cũng như nhiều người Việt Nam khác, ông chú tôi cũng để ý đến vấn đề số mệnh. Ngày nọ có ông thày tướng nổi danh ghé thăm nhà ông chú tôi. Hôm đó tôi có đến nhà ông chơi nhưng không hề biết thày tướng đã xem xét kỹ mặt tôi. Khi xem tướng tôi xong, ông có thấy vài điều khác thường và có kể lại cho chú tôi nghe. Nhà tướng số bảo với chú tôi rằng cuộc sống mai hậu của tôi sẽ đầy trắc trở và nguy hiểm. Có thể tôi sẽ không sống quá một năm nữa. Chỉ còn một cách là lập gia đình cho tôi. Nếu lập gia đình thì đường số mệnh của nhà tôi sẽ quyện vào đường số mệnh của tôi khiến nó phải chuyển hướng đi và như vậy tôi sẽ thoát khỏi chuyện dữ. Ngay ngày hôm sau chú tôi bắt đầu hỏi tôi về chuyện lập gia đình.

Không hiểu lời tiên đoán của ông thày tướng số có thật sự đúng hay không nhưng ít nhất chuyện thành hôn của chúng tôi vào lúc đó thật là may mắn. Chẳng bao lâu sau khi chúng tôi thành hôn, tôi nhận được lời nhắn của ông thân rằng mẹ và chị tôi đang từ vùng Việt Minh tản cư lên Hà Nội. Ông thân tôi muốn biết liệu tôi có thể đón hai người được không? Mẹ tôi dường như đã đâm chứng sợ hãi kinh niên vì tiếng bom rền khi Pháp dội bom ráo riết xuống khu Việt Minh. Vì vậy ông thân đã sắp xếp chuyển mẹ tôi về Hà Nội. Ông hỏi liệu tôi có đủ sức lo nổi cho mẹ và chị tôi hay không? Tôi thư ngay lại rằng ông nên để hai người qua ngay. Như thế gia đình chúng tôi mới hai người bỗng biến ra thành bốn.

Một năm sau, vào tháng 5 – 1952, nhà tôi hạ sinh con gái đầu lòng là Ngọc Lưu. Tuy việc sinh nở rất bình thường và đứa bé thật là khỏe mạnh, chẳng bao lâu sau bỗng nhà tôi nhiễm chứng ho lao. Lúc này, tuy bác sĩ Quát đã bước sâu vào chính trường nhiều năm, ông vẫn là bác sĩ gia đình của chúng tôi. Sau khi xem xét kết quả các cuộc thí nghiệm và chụp hình quang tuyến X, bác sĩ Quát bảo rằng bệnh nhà tôi có thể dễ dàng biến thành “Bệnh Lao Cấp Tính.” Vì thiếu thốn dụng cụ, chứng lao cấp tính không thể chữa trị tại Việt Nam. Ông khuyên rằng nếu tôi nghĩ đến nhà tôi thì nên qua Pháp để tìm bác sĩ chuyên khoa điều trị ngay.

Lời bác sĩ Quát làm cả hai chúng tôi dao động dữ dội. Tệ hơn nữa, bác sĩ Quát còn nhấn mạnh rằng chúng tôi không nên mang theo con. Nhà tôi không thể tự tay săn sóc đứa bé được. Sau nhiều phen khóc lóc, bàn cãi chúng tôi đành chịu. Con chúng tôi là Lưu phải ở lại với mẹ, chị tôi cùng với chú và mợ tôi tạm thời trông coi.

Sau khi đã quyết định, chúng tôi bắt đầu sắp xếp cuộc hành trình. Chú tôi giúp một ít tiền, tôi bán chiếc đồng hồ vàng của mình, mượn thêm tiền bạn bè và xoay sở để tìm giấy thông hành. Chúng tôi ra đi thật gấp trên chiếc Skymaster của hãng Air France và ba ngày sau thì đến Pháp. Cuối cùng tôi đã thỏa mộng đi xa của buổi ấu thời tuy rằng tình cảnh lúc này thật không đúng hẳn như những ước mơ phiêu lưu tôi vẫn hằng ước ao khi trước.

Dẫu sao đi nữa thì mùa thu 1952 ở Ba Lê đối với tôi vẫn là một điều hoàn toàn mới mẻ. Một mặt, vì đã thấm nhuần văn hóa Pháp, tôi cảm thấy khung cảnh Ba Lê thật là quen thuộc. Mặt khác, thì đây quả là lần đầu tôi thực sự ở Ba Lê. Tôi nhìn quanh tháp Eiffel sừng sững, đại lộ Champs Élysée và bảo tàng viện Louvre. Tôi quan sát Ba Lê với một cảm giác vừa lạ vừa quen chẳng khác nào một người đã gần gũi với văn hóa Pháp nhưng lại đang nhìn vào thủ đô qua con mắt của một người dân quê.

Ngay sau khi đến, tôi vào một khách sạn hạng xoàng gần Mont Parnasse và liên lạc với một người anh họ là một bác sĩ đã cư ngụ tại Ba Lê rất nhiều năm. Người anh họ tôi tự chẩn bệnh cho nhà tôi và sau đó sắp xếp cho nhà tôi đến gặp bác sĩ chuyên khoa. Vị bác sĩ này tiến hành ép phổi. Trong khi giải phẫu, buồng phổi yếu đã được chích thuốc mê. Giải phẫu xong, bác sĩ đề nghị đề nghị nhà tôi đến điều dưỡng ở bệnh xá Chamonix.

Chỗ bệnh xá nơi vị bác sĩ giới thiệu là một bệnh xá không những chỉ nhận bệnh nhân mà còn nhận cả gia đình bệnh nhân nữa. Chỉ trong một thời gian ngắn, cả hai chúng tôi đều nhập viện. Nhà tôi nhập viện như một bệnh nhân đang cần điều dưỡng bệnh phổi và tôi nhập viện như người đi theo săn sóc. Khung cảnh bệnh xá được thiết lập cốt để giúp bệnh nhân giảm thiểu các hoạt động hàng ngày càng ít càng tốt. Không khí trong bệnh xá lúc nào cũng yên lặng. Tôi đi quanh khu núi non hùng vĩ, quan sát ngọn Mont Blanc sừng sững vươn cao. Tất cả tin tức đều bị cắt đứt. Thế giới bên ngoài bỗng chợt chìm vào quên lãng. Việt Nam mới đó đang sôi sục vì những hoạt động chính trị nóng bỏng và các cuộc đụng độ dữ dội đã lại xa dần.

Chẳng còn việc gì để làm, tôi quyết định đi học toán lại. Trường đại học Grenoble chỉ xa khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ và ban giáo sư tại đó nhận dạy một lớp tự học. Sinh viên chỉ cần thỉnh thoảng ghé vào trường và có mặt trong các kỳ thi là đủ. Tôi theo học và lại một lần nữa đưa mình vào thế giới trừu tượng của toán học. Đền đài và khung cảnh yên tĩnh của Chamonix đã khiến tôi cảm thấy dễ dàng, thoải mái hơn.

Tại bệnh xá, chúng tôi gặp một đôi vợ chồng khác cũng tới đó trong một hoàn cảnh tương tự. Người vợ đang điều dưỡng bệnh lao được người chồng là giáo sư dạy Anh Văn tại Đại Học Berne săn sóc. Chẳng bao lâu sau, tôi cùng nhà tôi đã trở thành bạn thân với vợ chồng giáo sư Jacques Savarit. Ông Savarit đồng ý dạy thêm Anh Văn cho tôi. Trước đây tôi đã học Anh Văn ở Trung Học nhưng rất ít khi dùng tới. Lúc này gặp dịp rảnh rỗi, khi vợ chúng tôi nằm tắm nắng, hít thở không khí trong lành của núi, tôi cùng ông Savarit đi bộ và trèo những ngọn núi ở quanh. Chúng tôi nói tiếng Anh trong suốt cuộc đi.

Khi dạy Anh Văn cho tôi, ông Savarit đòi hỏi tôi phải nói tiếng Anh thật đúng. Đối với ông, Anh Văn có nghĩa là tiếng Anh của những khuôn mẫu thuần túy chứ không phải là một thứ “thổ âm Hoa Kỳ.” Ông vừa cố sửa giọng cho tôi, vừa bảo tôi: “Anh phải nói tiếng Anh cho đúng.” Tôi cũng viết những bài luận ngắn cho ông. Đầu tiên là những bài luận về tình thế ở Việt Nam là một vấn đề ông ta hoàn toàn mù tịt, rồi đến những bài luận về Somerset Maugham và cuối cùng là những màn kịch cổ như Hamlet và MacBeth mà ông ta đã bắt tôi phải đọc. Tôi cố gắng nỗ lực, vượt xa những mẫu câu khuôn thước ê a “My tailor is rich” trong quyển Assimil mà tôi đã học khi còn cắp sách đến trường ngày trước.

Sau khoảng 3, 4 tháng ở bệnh xá, tôi cùng nhà tôi chuyển tới một chỗ cho mướn phòng ở một căn nhà kế cận. Vì nhà tôi không thể làm bất cứ việc gì ngoại trừ nghỉ ngơi, tôi trở thành người đàn ông nội trợ, nấu nướng, quét dọn, giặt dũ và đi chợ. Cuộc sống thật là phẳng lặng. Trừ một vài chuyến đi Grenoble để học toán, chúng tôi ở ngay căn phòng mướn, nhìn tuyết rơi vào đầu mồng một tháng 11 (cả hai chúng tôi đều chưa hề thấy tuyết rơi bao giờ) và hoàn toàn ngạc nhiên khi mùa đông đến mang theo từng đợt tuyết chất đống dần dà cao đến ngang tận cửa sổ.

Dầu hoàn toàn cách biệt, tôi vẫn không mất hẳn liên lạc với Việt Nam. Vào đầu mùa đông, tôi giữ liên lạc với chú tôi hàng tuần. Theo những bức thư nhận được tôi chắc chẳng có biến cố gì quan trọng. Ít ra là chẳng có chuyện gì quan trọng qua những lá thư chú tôi gửi cho tôi. Phần nhiều chú tôi viết trấn an rằng chẳng có vấn đề gì đáng lo, rồi nhắc nhở chúng tôi phải ở lại cho đủ thời gian tĩnh dưỡng để nhà tôi có thể hoàn toàn bình phục.

Vào mùa thu 1953, nhà tôi đang trên đà bình phục trông thấy. Khi chẩn bệnh không thấy gì, khoảng đầu tháng 5 nhà tôi theo tôi đi Grenoble, nơi tôi đến thi lần thi cuối. Về chỗ ăn cơm trọ được một lát thì tôi nhận được điện tín của bác sĩ Quát ở Việt Nam. Bức điện cho hay Bảo Đại lại vừa mới thay đổi chính phủ và bác sĩ Quát lại được cử làm Tổng Trưởng Quốc Phòng. Hiển nhiên là giai đoạn đàm phán quan trọng đã bắt đầu. Bác sĩ Quát hỏi tôi liệu có thể về được không?

Tôi suy nghĩ suốt đêm. Nếu nhà tôi thấy cần phải ở lâu hơn tôi sẽ phải quyết định một vấn đề thật khó khăn. Mặc dầu chú tôi vẫn quả quyết đều đều rằng không có chuyện gì quan trọng, chắc chắn diễn biến ở Việt Nam đã đến hồi quyết liệt. Bác sĩ Quát không bao giờ đánh điện tín nếu không phải vậy. Nhưng làm sao tôi có thể về được khi nhà tôi vẫn còn cần tôi ở lại?

Đúng ra, tôi không cần khổ tâm suy nghĩ suốt đêm. Sáng sau, khi uống Cà Phê nhà tôi bỗng nhìn tôi nói rằng nhà tôi biết tôi đang rất mong mỏi muốn về. Nghe nhà tôi nói, tôi biết là nhà tôi đã quyết định cùng về với tôi. Tôi hết sức vui mừng và quên hẳn cả chuyện cần phải lấy chứng chỉ toán cho lớp học tôi đã cố gắng đeo đuổi suốt năm. Chúng tôi trả lại chỗ ăn cơm trọ và trở về căn gác mướn để sửa soạn hành lý cho cuộc hành trình. Vài ngày sau, chúng tôi đã dành được vé trên chiếc Skymaster quen thuộc cho chuyến bay 3 ngày về Sài Gòn. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"