Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

9 – Giải Pháp Bảo Đại 


Chương 9
Giải Pháp Bảo Đại

Khi tàu cặp bến Hải Phòng và thuyền đi vào vòng kiểm soát của Pháp, cảnh sát đã giữ tôi lại để tra vấn. Cuộc tra vấn chỉ rất qua loa. Tôi vốn đã đến từ Phát Diệm, trên một chiếc thuyền chở đầy những người công giáo tản cư nên cảnh sát đã tin tôi không phải là Việt Minh. Mặc dù vậy, đương lúc điều tra những cảnh sát Việt Nam đang làm việc cho người Pháp đã bắt đầu làm tôi cảm thấy khó chịu. Nhìn những sĩ quan Pháp đi quanh trạm cảnh sát ra lệnh cho mọi người tôi không nén nổi căm giận. Quả là một sự nhục nhã khó tưởng! Trước mắt tôi guồng máy thực dân mặc nhiên hoành hành, như thể chưa từng có ngày độc lập trước đây bao giờ. Lúc này vì mới từ Phát Diệm trốn vào, khi chứng kiến những điều đang xảy ra trước mắt, tôi tự hỏi: “Phải chăng từ giờ trở đi mình sẽ phải chấp nhận những điều trông thấy?” Khung cảnh trước mắt còn khiến tôi phân vân tự hỏi chẳng hiểu quyết định rời Phát Diệm của chúng tôi có đúng hay không? Sau nhiều ngày chịu đựng thống khổ với những cảnh khó chịu ở Hải Phòng tôi rời Hải Phòng để về Hà Nội.

May mắn thay tại Hà Nội những điều tôi trông thấy lại hoàn toàn khác hẳn. Tôi được gặp ông Phan Huy Quát gần như lập tức. Ông Quát là vị bác sĩ làm Đổng Lý Văn Phòng trong chánh phủ của chú tôi lúc trước. Lúc này tuy vẫn đang bận bịu về nghề nghiệp ông vẫn theo sát tình hình chính trị. Sau khi nói chuyện với ông Quát được giây lát thì ông thú thực với tôi rằng chính ông cũng là cảm tình viên của đảng Đại Việt. Đảng hiện đã chỉnh đốn lại tuy rằng không hẳn thực sự như ngày xưa nữa. Lúc này vẫn chưa ai có đủ khả năng để chấn chỉnh lại guồng máy của đảng hoặc thay thế được ông Trương Tử Anh. Mặc dù vậy, lúc này một chủ trương khác đang được nhiều người ủng hộ là chủ trương hòa hợp những nguyên tắc Dân Tộc Sinh Tồn của Đại Việt với những nguyên tắc dân chủ. Chủ trương này đang thu hút được nhiều người khác, trong số có cả những người đã từng trải và có quan niệm chính trị sắc bén chẳng hạn như bác sĩ Quát.

Khi bắt đầu gặp những người mới trong đảng Đại Việt, tôi thấy rằng họ ít có khuynh hướng cách mạng so với những sinh viên vốn là thành phần nòng cốt của đảng trước đây trong những ngày đảng hãy còn toan tính đương đầu với Pháp bằng bạo lực. Những đảng viên Đại Việt tôi gặp lúc này đều lớn tuổi và có vẻ nghiêm trang hơn các đảng viên sinh viên khi trước. Trông họ có vẻ giống những nhà nho trong nội các của chú tôi hơn là những người mang súng vận động hăng say, nhiệt tâm làm việc dưới sự lãnh đạo của ông Trương Tử Anh. Tuy vậy, những đảng viên cũ của Đại Việt cũng chưa hoàn toàn mất hẳn. Vào mùa thu năm 1949 đã có rất nhiều đảng viên sống sót từ Trung Hoa hoặc những nơi ẩn nấp xa xăm trở về Hà Nội. Họ cũng bị những tin tức về việc Giải Pháp Bảo Đại có thể dành lại độc lập thu hút chẳng khác gì tôi. Và cũng như tôi, họ hy vọng có thể tìm được một lối thoát cho họ nói riêng và cho cả tổ quốc nói chung.

Bác sĩ Quát cho tôi biết rằng chú tôi đã từ Hồng Kông về Sài Gòn trở lại nhưng lúc này ông đang ở Nam Vang, thủ đô của Cam Bốt. Lần cuối tôi gặp chú tôi là lần gặp cách đây đã ba năm về trước ở biên giới Trung Hoa, khi tôi thu xếp cho ông thoát khỏi Việt Minh. Vì lúc này hãy còn chưa làm gì nên tôi rất muốn gặp ông. Qua nhiều năm chung sống, những liên hệ tình cảm của hai chúng tôi đã tiến đến mức gần như cha con. Lúc này, tôi cảm thấy chuyện gặp ông thật cần thiết. Tôi muốn biết rõ những việc đã xảy ra sau khi chúng tôi chia tay. Hơn nữa, tôi muốn nghe ông nhận xét những biến chuyển lúc này. Tôi cũng muốn tìm hiểu xem ông định sẽ làm gì.

Vì thế tôi đã mượn tiền của một số bạn bè để sửa soạn cho chuyến hành trình sang Cam Bốt. Tôi bắt đầu bay từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi từ đó đáp một chuyến bay khác trên chiếc Dakota cổ lỗ của hãng Air France để đến thẳng Nam Vang. Nam Vang là một chỗ yên tĩnh nhất trong tất cả các chỗ mà tôi đã từng đi qua. Đây là một chỗ lý tưởng cho những người muốn tìm yên tĩnh. Chú tôi đã chọn Nam Vang chính vì lý do này. Ở Nam Vang chẳng ai có thể quấy rối ông trong khi ông đang cần nghỉ ngơi và lượng định tình hình Việt Nam.

Lúc đến nơi, tôi đến ngay căn nhà nhỏ chú tôi mướn ở ngoại ô. Buổi sáng sau khi đã điểm tâm bằng sầu riêng, chúng tôi cùng nhau tản bộ trong bầu không khí ấm áp và nhàn tản của Nam Vang, đến bên giòng Mê Kông rộng lớn đang lặng lẽ chảy qua thủ đô. Tôi cùng chú tôi ngồi trên bờ sông kể cho nhau nghe chuyện từ ba năm về trước. Tôi kể chuyện ông Trương Tử Anh, chuyện những công việc tôi làm với Việt Minh và những dự định riêng trong việc tổ chức một phong trào tại Phát Diệm trong khi chú tôi kể lại những khó khăn mà ông đã phải trải qua ở Trung Hoa.

Chú tôi cho biết rằng ông đã phải khốn khổ ở Hồng Kông. Đường dây tiếp tế của tôi chỉ hoạt động chập chờn lúc có lúc không đến khi ông Trương Tử Anh mất tích thì cả đường dây này cũng bị cắt đứt hoàn toàn. Chú tôi hoàn toàn kiệt quệ tài chánh. Đôi lúc ông Bảo Đại có giúp đỡ ông, nhưng nhiều khi chính ông Bảo Đại cũng không có tiền. Cuối cùng khi đã rõ ràng rằng ở Trung Hoa chẳng làm được gì, ông chú tôi lại về Sài Gòn để sống chung với gia đình. Nhưng ở Sài Gòn người Pháp nhất định không để ông yên. Họ thúc đẩy làm áp lực buộc ông giữ một vai trò chính trị. Tuy đã biết rõ thái độ của ông đối với chánh quyền thực dân, Pháp vẫn cho rằng nếu có thể thuyết phục được ông ủng hộ Giải Pháp Bảo Đại thì giải pháp này chắc chắn sẽ có nhiều hy vọng thành công.

Vì Pháp nhất định không để ông yên, ông đã phải tìm cách lẩn tránh sang Cam Bốt. Ông có vẻ bi quan khi nhìn tình hình lúc đó vì đã thấy rõ cả những lợi điểm của Việt Minh lẫn những nhược điểm của các đảng phái quốc gia. Ông tin rằng Giải Pháp Bảo Đại khó có thể thành công. Nếu thật sự thỏa thuận giữa ông Bảo Đại và Pháp có thể xảy ra thì ông cho rằng việc đó cũng là việc hãy còn xa. Vì quan niệm như vậy nên chú tôi không đặt hết tin tưởng vào giải pháp Bảo Đại.

Mặc dầu đồng quan điểm với chú tôi, tôi vẫn bác bỏ những nhận xét bi quan của ông. Càng ngày tôi càng tin rằng chỉ có hai cách để lựa chọn: Một là bỏ tất cả, hai là hy vọng Giải Pháp Bảo Đại thành công. Sau hai tuần bàn cãi những chuyện này với chú tôi ở Nam Vang, tôi bay về Hà Nội chờ xem diễn biến và mong mỏi rằng sự nhượng bộ của Pháp về vấn đề độc lập sẽ ở vào một mức độ đủ để các phần tử quốc gia có thể có lý do ủng hộ ông Bảo Đại.

Qua năm 1948, ông Bảo Đại và Pháp đã trên đà thỏa thuận. Vào tháng 6, họ ký kết một thỏa hiệp gọi là thỏa hiệp Vịnh Hạ Long. Trong thỏa hiệp này Pháp thực sự đồng ý “long trọng nhìn nhận Việt Nam độc lập.”

Đây là điểm then chốt và cũng chính là điểm mà tôi cũng như nhiều người khác đã cùng mong mỏi. Trước đây, chưa bao giờ Pháp chánh thức đặt hai chữ “độc lập” vào bất cứ một tài liệu nào. Chẳng hạn như hiệp định giữa ông Hồ và Sainteny vào năm 1946, khi Pháp không chịu ký kết, đã đề cập đến Việt Nam như “một quốc gia tự do… nằm trong khối Liên Hiệp Pháp.” Lúc này chúng tôi đã bỏ ra rất nhiều thì giờ cố xem xét và bàn luận thấu đáo về những ý nghĩa của bản thỏa hiệp. Việc Pháp tuyên bố long trọng nhìn nhận Việt Nam độc lập đã khiến đa số các thành phần quốc gia cho rằng ông Bảo Đại đã dành được bằng đàm phán những điều mà Việt Minh vẫn chưa đoạt được trong suốt cả hai năm chiến tranh, tuy rằng đây mới chỉ là trên giấy tờ.

Chứng cớ ngày một rõ ràng rằng ông Bảo Đại đã thực sự đạt được vài thắng lợi căn bản. Chỉ có một điểm bất lợi duy nhất của sự thỏa thuận giữa ông Bảo Đại và Pháp là: Nam phần, lúc bấy giờ còn gọi là CochinChine vẫn lệ thuộc vào Pháp, cho đến khi Hội Đồng Địa Phương của Nam Phần chánh thức bỏ phiếu chấp thuận việc sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Việt Nam. Và vì đa số nhân viên của Hội Đồng Địa Phương của Nam Phần đều là những người thân Pháp, thể thức bầu cử chỉ là một thủ tục mang vẻ hình thức và qui tắc mà thôi. Tuy Pháp đã gây áp lực bắt ông Bảo Đại phải về Việt Nam, (Trong khi đàm phán ông Bảo Đại vẫn ở Pháp) ông Bảo Đại vẫn nhất định đợi chờ cho đến khi Hội Đồng Địa Phương chánh thức bỏ phiếu sát nhập CochinChine vào lãnh thổ Việt Nam.

Sau cùng Hội Đồng Địa Phương đã bỏ phiếu vào tháng chạp. Ông Bảo Đại chỉ chịu trở lại chức vụ Quốc Trưởng sau khi ông đã ký kết thỏa hiệp Élysée chính thức công nhận Việt Nam hợp nhất. Sau khi trở lại làm Quốc Trưởng, ông Bảo Đại trở về Việt Nam vào tháng giêng năm 1949 để thiết lập một chánh phủ với nhiệm vụ là đàm phán với Pháp để thực hiện những điều đã ký kết.

Khoảng một thời gian ngắn sau đó, ông Bảo Đại trở về Đà Lạt. Từ Đà Lạt ông Bảo Đại gửi thư cho tất cả các thành phần quốc gia để mời họ cùng về Đà Lạt tham khảo ý kiến. Hưởng ứng lời mời của ông Bảo Đại, tôi cùng bác sĩ Phan Huy Quát và người bạn giới thiệu tôi vào Đại Việt khi trước là bác sĩ Đặng Văn Sung cùng rời Hà Nội bay về Đà Lạt.

Vào buổi sáng ngày hẹn, cả ba chúng tôi cùng đến biệt điện. Khi đến nơi chúng tôi được dẫn vào phòng khách để chờ cuộc họp. Mặc dầu đã có lần cùng sống với chú tôi ở Huế vào khi ông Bảo Đại còn ở hoàng cung, tôi vẫn chưa có dịp chính thức gặp gỡ ông Bảo Đại và cũng rất tò mò không hiểu ông ta thực sự ra sao.

Lúc chúng tôi bước vào căn phòng bày biện trang nhã thì ông Bảo Đại cũng vừa từ một phòng khác bước ra. Ông ta mặc âu phục trắng. Ngay từ lúc ông Bảo Đại bước vào, tôi đã chú ý đến phong cách nhàn nhã của ông. ông có vẻ thân thiện, hòa nhã và vô cùng thong thả trong câu chuyện. Ông không hề bỏ qua những câu chào hỏi thông thường để tiến vào vấn đề chính. Trong khi đó thì chúng tôi lại hết sức nóng lòng, không biết phải làm thế nào để tìm hiểu ngay về những điều ký kết giữa ông và người Pháp. Chẳng những vậy, chúng tôi còn muốn biết rõ thêm ông đang chờ đợi ở chúng tôi những gì?

Cuối cùng việc gì phải đến đã đến. Ông Bảo Đại đi vào vấn đề. Ông nói: “Chúng ta đã dành được phần nào độc lập. Tuy tôi chưa thể đòi hỏi Pháp phải chấp nhận tất cả những điều tôi muốn, nhưng ít ra chúng ta cũng có một cái khuôn. Chúng ta đã có một chánh phủ Việt Nam. Kể từ bước này dĩ nhiên vấn đề vẫn còn tùy thuộc vào họ nhiều vì họ phải thực hiện những điều đã ký kết, nhưng một phần của vấn đề cũng tùy thuộc vào chúng ta nữa… Các ông nghĩ là các ông có thể giúp tôi thành lập chánh phủ được không?”

Đây chính là câu hỏi chúng tôi đã tự hỏi nhiều lần, nhưng ông Bảo Đại cũng không đòi hỏi chúng tôi phải trả lời ngay. Ông tiếp lời rằng: “Chúng ta sẽ liên lạc với nhau sau về vấn đề này.” Ông Bảo Đại cũng không quên gửi lời hỏi thăm chú tôi. Ông còn dặn thêm rằng “Nhớ bảo với cụ Kim là lần này chúng ta phải thận trọng nếu không lại sẽ bị lừa như lần trước đây.” Tôi biết ông Bảo Đại đang nói đến vấn đề Việt Minh cướp chính quyền, khi ông vô tình bị dụ chánh thức công nhận Việt Minh trong vai trò “Cố Vấn Tối Cao” của ông Hồ trước đây. Có lẽ ông muốn ám chỉ rằng chẳng phải chỉ riêng ông mà còn rất nhiều các đảng viên quốc gia khác cũng cùng đồng cảnh ngộ. Sau đó ông gián tiếp đề nghị rằng vì đã cùng bị sa bẫy Việt Minh lúc trước, ông và các phần tử quốc gia lúc này nên cùng nhau hợp tác. Cảm tưởng của tôi lúc bấy giờ là: “Ông vua này có vẻ hờ hững với việc quốc gia, nhưng lập luận của ông cũng không phải là lập luận của người không hiểu biết thời cuộc và nhân tình thế thái.” Mặc dầu qua lần gặp gỡ đầu tiên ông Bảo Đại có vẻ dễ dãi và thân thiện, trong các cuộc nói chuyện về sau ông có vẻ cương quyết hơn. ông Bảo Đại nói với chúng tôi rằng “Thật ra, chính là vì những người như các ông và bạn bè các ông mà tôi đã quyết định cùng Pháp điều đình. Việc các ông muốn tôi điều đình là việc đã rõ rành rành. Giờ tôi đã làm xong việc thì các ông phải giúp tôi. Dù rằng tôi chưa hoàn toàn đòi hỏi được tất cả mọi điều như ý muốn nhưng tôi cũng đã làm được một phần! Nếu các ông không chịu giúp tôi thì tôi phải làm gì bây giờ?”

Đây quả là một vấn đề nan giải chẳng những chỉ cho chúng tôi mà còn cho cả những người quốc gia khác đã được ông Bảo Đại mời tới Đà Lạt. Chúng tôi thật là ngần ngại với những lời hứa mong manh của Pháp. Tất cả đều biết rõ người Pháp sẽ làm tất cả mọi việc trong phạm vi quyền lực của họ để trì hoãn, kéo dài thì giờ hoặc chối bỏ thỏa hiệp nếu tình thế cho phép. Nếu Pháp tráo trở hẳn nhiên tất cả những người cộng tác lúc này sẽ bị coi là tay sai của Pháp.

Mặt khác, Anh Quốc và Hoa Kỳ đã chánh thức công nhận chánh quyền Bảo Đại và chúng tôi đã biết chắc rằng ít nhất Hoa Kỳ cũng là một trong những quốc gia sẽ đứng ra buộc Pháp phải từ từ trả lại chủ quyền cho Việt Nam. Lúc này Hoa Kỳ đã mở tòa đại sứ ở Sài Gòn và đang đề cử một đại sứ để phục vụ ở Việt Nam. Dĩ nhiên Hoa Kỳ không ủng hộ Pháp. Hơn nữa, vì Hoa Kỳ chính là nguồn tài trợ cho quân đội Pháp, tiếng nói của họ sẽ có rất nhiều ảnh hưởng. Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ lúc nào cũng ủng hộ việc Pháp trả chủ quyền cho Việt Nam và luôn tin tưởng vào những hậu thuẫn ủng hộ của Hoa Kỳ. Chẳng những vậy chúng tôi còn tin rằng sở dĩ Hoa Kỳ từ chối không chịu can thiệp vào năm 1945 chỉ vì lúc đó họ chưa có quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam. Lúc này, vì quan hệ ngoại giao đã được thiết lập, họ đã khẳng định rằng họ ủng hộ việc trao trả lại độc lập cho Việt Nam.

Hơn nữa, ông Bảo Đại cũng đang dự định điều đình với Pháp, nếu chúng tôi không chịu nhúng tay vào việc thì còn ai nữa? Lẽ nào chúng tôi có thể không bị lương tâm cắn rứt và khoanh tay chờ đợi người Pháp dâng cái khay Độc Lập lên cho chúng tôi? Đó là chưa nói đến việc nếu chấp nhận việc hợp tác vào lúc này, chúng tôi còn có thể đòi hỏi thêm về sau. Chánh phủ tương lai có thể làm áp lực bắt Pháp nhường lại quyền lãnh đạo của các lực lượng quân sự Việt Nam trong quân đội Pháp. Khi đó, chúng tôi sẽ có thể có một thế đứng vững vàng để đàm phán với Việt Minh. Chúng tôi cũng tin rằng đã đến ngày Pháp phải rời Việt Nam. Đây là một điều khiến chúng tôi bớt đi phần nào ngần ngại khi phải chấp nhận Giải Pháp Bảo Đại.

Cuối cùng khi xem xét rõ tình hình, chúng tôi nghĩ rằng, một bên là Pháp, một bên là Cộng Sản Việt Minh thì Giải Pháp Bảo Đại là cơ hội độc nhất còn lại. Chúng tôi cùng kết luận rằng lúc này là lúc phải đứng ra chịu đựng tất cả nguy hiểm của một thái độ hợp tác với người Pháp. Tuy đã quyết định liều, chúng tôi vẫn hành động vô cùng cẩn trọng. Sau nhiều ngày bàn luận tôi và ông Sung nói với ông Bảo Đại rằng: “Chúng tôi ủng hộ việc thành lập chánh phủ và bác sĩ Quát sẽ đại diện chúng tôi tham gia chánh phủ.”

Mặc dù cả ba chúng tôi đều đồng ý về việc cần hợp tác, bác sĩ Quát vẫn cảm thấy khó chịu chẳng khác gì chúng tôi khi phải chấp nhận một chính sách hợp tác với người Pháp.

Khi bắt tay vào việc tất cả chúng tôi đều hiểu rõ những nguy hiểm đang chờ đợi chúng tôi. Cả ba chúng tôi đều biết mình đang mang những gánh nặng trên vai và sẽ khó tránh được những tiếng tăm về sau này. Đây là một tấn thảm kịch cho những phần tử quốc gia. Đang giữa lúc cả nước đều chống đối việc hợp tác với người ngoại quốc mà chính chúng tôi lại phải ra mặt hợp tác với Pháp. Đây cũng chẳng phải là tấn thảm kịch duy nhất trong cuộc đời hoạt động của những phần tử quốc gia lúc này. Rồi đây, trong những thế khó xử họ lại dần dà bị dồn vào thế phải cộng tác với người Ngoại Quốc thêm một lần nữa. Nhưng chúng tôi đã biết quá rõ cộng sản và một khi đã biết rõ về họ thì hẳn nhiên chúng tôi chẳng còn đường chọn lựa. Đây quả là một tấn thảm kịch bắt buộc và không còn lối thoát.

Trong tất cả những nhân vật quốc gia có tiếng thời bấy giờ chỉ có ông Ngô Đình Diệm là người duy nhất vẫn giữ khoảng cách với chánh phủ Bảo Đại. Có thể vì hiểu tình thế rõ hơn chúng tôi nên sau vài lần gặp gỡ ông Bảo Đại, ông Diệm đã rời Việt Nam và đi Hoa Kỳ để vận động. Đây là một cuộc vận động giúp đỡ ông rất nhiều sau này.

Chỉ có một biến cố có thể khiến Giải Pháp Bảo Đại gặt hái được đa số ủng hộ và đồng thời mang lại chí phấn đấu cho các phần tử quốc gia là: Độc Lập thật sự. Nếu Pháp có thể bị buộc phải nhượng quyền lập tức thì tình hình Việt Nam có thể sẽ thay đổi khác hẳn. Nếu chúng tôi có thể buộc được Pháp giao trả độc lập thật sự thì những phần tử quốc gia như chúng tôi đã thành công và đạt được bằng đàm phán từ Pháp những gì Việt Minh vẫn chưa thể đoạt được sau bốn năm đeo đuổi bằng chiến tranh và xương máu.

Hiển nhiên, Pháp sẽ chỉ chuyển giao chánh quyền khi họ không còn chịu nổi áp lực liên kết của cả ông Bảo Đại, lẫn Hoa Kỳ. Tuy thế, khi đã xem xét kỹ tình hình, chúng tôi nhận ra có một cách để bẻ gãy thế khóa của Pháp là để ông Bảo Đại làm áp lực với họ. Thay vì xin xỏ, Cựu Hoàng có thể lập tức đòi hỏi những điều Pháp đã hứa và dồn chánh quyền thực dân vào thế nguy hiểm. Lúc này có hai lý do khiến Pháp phải cần có một chánh phủ như Giải Pháp Bảo Đại đã đề ra. Thứ nhất, họ cần chánh phủ Bảo Đại để thay thế chánh quyền Việt Minh. Thứ hai, họ cần chánh phủ Bảo Đại để thuyết phục Hoa Kỳ rằng họ thực tâm muốn trao trả độc lập cho Việt Nam.

Pháp đã cố tình lợi dụng ông Bảo Đại thì chẳng có lý do gì khiến ông Bảo Đại phải ngồi yên mà không lợi dụng họ. Nếu Pháp đã có thể tạo ra được một Quốc Trưởng với bề mặt uy quyền thì tại sao ông Bảo Đại lại không thể làm áp lực bằng cách tuyên bố từ chức nếu những yêu cầu của ông không được thoả mãn? Đây quả là một giải pháp hấp dẫn và có hiệu lực. Nếu ông Bảo Đại có thể làm lớn chuyện thì Pháp sẽ phải nhượng bộ hoặc Pháp sẽ phải bỏ tất cả những công trình đã đầu tư vào một giải pháp quốc gia. Chẳng những đã vậy, nếu không nhượng bộ, Pháp còn để lộ cả dã tâm dùng chiêu bài độc lập để che mắt Hoa Kỳ. Dĩ nhiên mấu chốt của mọi sự hoàn toàn phụ thuộc vào ông Bảo Đại. Cựu hoàng có chịu đóng vai trò này hay không?

Càng bàn cãi thì tôi, ông Sung và bác sĩ Quát lại càng đắc ý về giải pháp này. Cuối cùng chính tôi được ủy nhiệm đưa ý kiến đến Bảo Đại. Nhưng trước khi đến gặp ông Bảo Đại tôi muốn gặp chú tôi, lúc này vừa từ Cam Bốt trở về Sài Gòn.

Tôi nói với ông chú tôi rằng: “Thật ra, ai cũng thiếu kiên nhẫn. Ai cũng sợ lâm vào tình trạng mất tiếng tăm khi phải hợp tác với Pháp. Ngay trong lúc này thì ông Bảo Đại lại ung dung ở Đà Lạt nhàn cư, chỉ lo săn bắn và bà nọ, bà kia. Lúc nào ông ta cũng chỉ lo việc vui thú. Lúc này bạn bè đang nhờ cháu tới đó thức tỉnh ông ta. Chú nghĩ sao?”

Chú tôi vẫn chưa bỏ hẳn những nhận xét bi quan, hay nói đúng hơn thì là chưa bỏ hẳn những nhận xét thực tế. Ông mỉm cười nhìn tôi rồi kiên nhẫn trả lời: “Diễm à, cháu vẫn không hiểu ông Bảo Đại. Ông Bảo Đại là một ông vua chứ nào phải là một con người cách mạng? Từ bé ông ta đã được nuôi nấng để trở thành một người không bao giờ có chủ trương hành động. Cả cuộc đời ông ta là vậy. -Không bao giờ có đủ quyết tâm hành động. Cháu không thay đổi ông ta được đâu!”

Lời chú tôi chẳng khác nào một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt. Tôi biết là ông chú tôi hiểu rất rõ về ông Bảo Đại và chú tôi dĩ nhiên có đủ lý do chính đáng để nghi ngờ. Tuy thế tôi đã quyết định thử.

Phải sau một tháng xếp đặt tôi mới có thể gặp riêng ông Bảo Đại. Một hôm, khi tôi đang ở Đà Lạt ngồi đợi điện thoại thì bỗng có một tùy viên quân sự của ông Bảo Đại ghé vào chỗ tôi đang trú ngụ báo rằng: “Đức Ngài sẽ đi săn vào ngày mai và có ý muốn ông cùng đi.” Sáng sau, tôi đi theo đoàn tùy tùng của ông Bảo Đại đi về mé những khu rừng cao nguyên.

Thú săn bắn là một đam mê của ông Bảo Đại. Ở vùng cao nguyên có những chỗ ẩn nấp được ngụy trang bằng cây bao quanh, chính là những chỗ ông Bảo Đại cùng đoàn tùy tùng ngồi cả ngày trời, đợi con mồi xuất hiện. Trải quanh chu vi hai hoặc ba ki-lô-mét, những người Thượng ở các bộ lạc trong khu vực xung quanh bắt đầu đánh trống để đuổi dần những con thú hoang về mé giữa, nơi cựu hoàng đang chờ đợi và mong rằng sẽ có cọp xuất hiện. Khi tiếng trống ở hai bên khép dần vào tôi cũng chờ đợi ở một chỗ gần ông Bảo Đại. Mặc dù những người đi săn lúc này đều đã thủ thế đứng nhắm mà tôi vẫn ngước về phía ông Bảo Đại cố suy nghĩ tìm cách gặp riêng ông ta.

Tuy đã có nhiều pha náo động trong ngày nhưng ngày đó ông Bảo Đại vẫn không săn được gì. Khi đợt săn kết thúc mọi người lại quay về nơi ẩn nấp. Lúc trở lại tôi thấy ông Bảo Đại đang ngồi một mình ngoài hiên uống nước. Mặc dầu đã biết rằng tình thế lúc này bất lợi vì cuộc săn không kết quả trong ngày, tôi thấy rằng chỉ có cơ hội duy nhất này thôi và thu hết can đảm bước ngay đến chỗ ông Bảo Đại. Tôi chuyện gẫu một lúc rồi đi thẳng vào vấn đề rằng: “Thưa Ngài, tôi mới từ Sài Gòn đến đây hôm qua. Tôi phải thưa với ngài rằng có nhiều người than phiền về vấn đề người Pháp không chịu giữ lời. Nếu chúng ta cứ thúc thủ không hành động thì rồi đây tình thế sẽ khó khăn vô cùng.”

Ông Bảo Đại trả lời lập tức không chút do dự rằng: “Trong việc chính trị chúng ta phải kiên nhẫn.” Rõ ràng là chính ông cũng đã suy nghĩ về vấn đề cần đối phó cho thích nghi. Có thể ông cũng đã đoán ra mục đích chính của tôi khi đến đây là gì. Sau một lúc im lặng Bảo Đại lại nói tiếp: “Ừ, tôi cũng thấy rằng người Pháp không thực thi nghiêm chỉnh mọi việc nhưng tôi chỉ có một mình… Theo ông thì Hoa Kỳ sẽ hành động ra sao?”

Tôi trả lời rằng: “Thưa Ngài, bác sĩ Quát vẫn liên lạc với họ nhưng vẫn chưa có điều gì rõ rệt.”

“Ừ, tôi cũng nghĩ vậy,” Ông Bảo Đại tiếp lời.

Tôi đưa đẩy: “Nhưng mà… thưa ngài, chúng ta sẽ phải bó tay chờ đợi bao lâu nữa?”

“Tôi cũng không rõ,” Ông Bảo Đại trả lời, “Có lẽ tốt hơn là ông nên gặp tôi khoảng vài tháng sau. Chúng ta sẽ bàn luận thêm vào lúc đó.”

Lúc này tôi đã thấy chẳng thể đẩy cuộc đối thoại đi xa thêm. Có bàn luận thế nào thì mọi sự cũng chỉ đến thế. Những nghi ngờ của chú tôi quả nhiên không hề sai trệch. Tôi trở về Sài Gòn lòng thất vọng sâu xa và biết rõ rằng chúng tôi đã bị dồn vào ngõ bí không còn lối thoát. Vài ngày sau tin tức đã làm rõ hẳn mọi sự. Tin đồn bên trong chánh phủ Bảo Đại cho biết Pháp đã chuyển một số tiền khổng lồ vào trương mục của ông Bảo Đại ở Ngoại Quốc. Vài ngày sau nữa một tạp chí Cộng Sản đăng tải tin đồn về việc Pháp chuyển tiền. Câu chuyện gần như đã rõ rành rành.

Tin tức đã xác nhận toàn thể chiến lược của Pháp đối với Việt Nam lúc này. Rõ ràng là Pháp không chấp nhận việc trao trả chủ quyền cho Việt Nam. Trên lãnh vực chính trị thì họ ngăn chận, trì hoãn các cuộc tranh đấu. Về phương diện cá nhân thì họ nỗ lực làm mọi chuyện để xoa dịu các đòi hỏi của ông Bảo Đại. Nhược điểm trùng trình của ông Bảo Đại đã khiến Pháp có thể lợi dụng ông thật hữu hiệu. Khôn ngoan như ông Bảo Đại mà cũng không thoát khỏi đòn phép của Pháp.

Lúc đó, vào lúc 27 tuổi, tôi lại học hỏi được thêm một bài học nữa. Trong cuộc đời chính trị của riêng tôi, tuy một khuôn mẫu rõ rệt đang dần dà lên khuôn thành đậm nét mà tôi vẫn chưa hề hay biết. Tôi biết rõ ông Trương Tử Anh là người tôi có thể về cùng làm việc nhưng sự nghiệp của ông đã bị Việt Minh cắt đứt. Trong một thời gian ngắn, tôi cũng đã tin ông Bảo Đại có thể ngoi lên hàng lãnh tụ Việt Nam, nhưng sau khi gặp ông trong cuộc săn bắn, những hy vọng của tôi cũng đã biến thành hão huyền. Từ nay cho đến suốt hai mươi lăm năm sau, tôi đã từng làm việc với nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam và vẫn luôn luôn đỏ mất chẳng hề tìm thấy một người đáp ứng đúng nguyện vọng quốc gia. May thay, vào năm 1950 tôi không hề thấy trước như vậy. Cũng nhờ đó tôi chưa hề biết rằng cuộc tìm tòi của chính tôi cũng như nhiều nhân vật quốc gia khác chỉ là những cuộc tìm tòi do định mệnh nghiệt ngã xô đẩy. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"