Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

8 – Trong Vòng Trốn Tránh 


Chương 8
Trong Vòng Trốn Tránh

Cái chết của ông Trương Tử Anh là một nhát giáng kinh hoàng. Có lẽ tôi nên nói là “việc ông mất tích” thì đúng hơn vì không có bằng chứng gì hiển nhiên chứng tỏ rằng ông đã chết. Tôi cùng những đảng viên khác cố nuôi hy vọng là ông vẫn còn sống và đang trốn tránh ở đâu đó. Nhưng sau nhiều tuần nuôi hy vọng, tất cả những ảo ảnh đã dần dần tiêu tan. Lúc này rất nhiều bạn bè của tôi đã bị ám sát, một số tại sông Hồng, một số tại Hà Nội. Những người còn lại đều trốn sang Trung Hoa, sang Hồng Kông như ông chú tôi hoặc lui vào vòng ẩn nấp. Tôi sống cuộc đời trốn lánh rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài, không bạn bè, không gia đình và tệ hơn nữa là bấp bênh và hoàn toàn vô định. Lúc này tôi là một linh hồn hoàn toàn lạc lõng.

Tôi đến ở tạm với một người bạn cùng đảng ngoài ngoại thành Hà Nội và ít khi bước ra khỏi cửa. Có hai ba đảng viên Đại Việt khác cũng ở đó và chỗ ở biến thành một nơi tụ họp nho nhỏ của đảng. Tất cả đều cảm thấy gò bó tâm thần. Chẳng có gì để làm, chúng tôi ngồi quanh bàn luận suông những chuyện phải làm trong tương lai. Chẳng có người nào trong chúng tôi có được một đường hướng gọi là đứng đắn. Khi nhìn lại thì có vẻ như tất cả đều cực kỳ kinh hãi. Thỉnh thoảng một hoặc hai chúng tôi lại lén ra khỏi nhà mua thức ăn hoặc thăm viếng các đồng chí khác cũng đang ở trong tình trạng trốn tránh. Nhưng phần lớn chúng tôi đều yên lặng đợi chờ. Khung cảnh tù túng đã khiến ý nghĩ của chúng tôi càng ngày càng thêm gò bó.

Rồi một hôm, bỗng dưng tôi và một người bạn quyết định đập tan không khí nhàm chán bằng cách đi thăm một người em họ của anh ta ở một khu làng nhỏ ngoại ô. Cuộc hành trình có thể có vài nguy hiểm nhưng cả hai chúng tôi đều đã dày kinh nghiệm tránh tuần tiễu và thông thạo cách thức vượt qua các trạm gác. Lúc này khung cảnh tù túng khó chịu đã ảnh hưởng đến tâm thần và khiến chúng tôi trở nên một phần tự kỷ ám thị.

Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Chỉ cần ra ngoài thôi cũng đủ làm tôi sảng khoái. Tại nhà cô em họ người bạn, chúng tôi dùng trà, nói chuyện và đi dạo với nhau trong vườn. Đây quả thật là một phút nghỉ ngơi mà cả hai chúng tôi đều cùng trông đợi. Tuy thế chuyến về lại không hoàn toàn êm xuôi như dự liệu.

Trên đường quay về tối đó, chúng tôi phải ngừng ở nhiều trạm kiểm soát. Lần nào những đội “tự vệ phố” cũng đều cho chúng tôi qua sau khi xem xét giấy tờ. Tuy nhiên ở trạm cuối, một thiếu niên tự vệ đã nhìn thấy có điều gì khả nghi trong giấy tờ và cả hai chúng tôi đều bị điệu về một chỗ đồn địa phương gần đó. Người bạn đi cùng tôi giả vờ giận dữ tột độ. Anh quát to lên cho mọi người xung quanh cùng nghe rằng chính anh là một thẩm phán đến từ Vinh. Tôi là người phụ tá anh ta. Tại sao chánh quyền địa phương lại có thể bắt chúng tôi? Vì không thể chứng minh được lời khai và cũng sợ trách nhiệm khi nghe người bạn tôi đe dọa không chút dấu diếm, sau cùng chánh quyền địa phương quyết định để cho chúng tôi đi.

Vừa về đến nhà chúng tôi vội vơ vét hành trang và trốn ngay sang nhà một đảng viên Đại Việt khác. Sáng sau chúng tôi nghe rằng công an đã đến truy nã chỗ chúng tôi ở. Biết chắc rằng mình đã bị truy nã, tôi cùng người bạn chia tay. Tôi bắt đầu đi từ chỗ này qua chỗ khác trốn tránh trong những căn phòng chật hẹp hoặc những chỗ ở tối tăm, cùng với họ hàng hoặc bạn bè.

Đúng vào lúc tôi đang bị truy nã gắt gao thì chiến tranh bùng nổ. Vào mùa thu 1946, khi đàm phán thất bại tình hình căng thẳng ở Việt Nam đã gia tăng. Hàng loạt biến động ở Hải Phòng dẫn đến những cuộc đụng độ giữa quân đội Pháp và Việt Minh vào ngày 23 tháng 10 trong khi máy bay Pháp thả bom thành phố và một chiến hạm Pháp đậu ngay tại bến quay súng bắn thẳng vào các làng xóm chung quanh. Vào ngày 19-12, ông Hồ lên tiếng kêu gọi: “Hỡi đồng bào,” ông thúc dục, “Hãy đứng lên!… Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất tổ quốc!” Gần như toàn thể dân chúng Việt Nam hưởng ứng đáp lời. Mâu thuẫn thay, vào lúc ông Hồ kêu gọi thì những người đã đứng ra hưởng ứng việc chống Pháp trước đây đã bị Việt Minh tiêu diệt gần như trọn bộ. Trong số những người không thể “đứng lên chiến đấu cho đất nước” như lời ông Hồ kêu gọi là những đảng viên Đại Việt và VNQĐD đã bị ông Võ Nguyên Giáp truy nã tàn sát dọc theo sông Hồng hoặc đã bị công an Việt Minh ruồng bố ở Hà Nội và Hải Phòng.

Tin tức của cuộc chiến tranh Pháp Việt đến với tôi bằng một tiếng nổ long trời mà tôi đã tưởng lầm là tiếng sét. Tôi đang cùng bạn bè tụ họp ngồi quanh chiếc bàn bên trong một căn nhà chúng tôi cùng trốn và đang sửa soạn để ăn tô mì thì bỗng có một tiếng nổ rung chuyển mặt đất làm ngọn đèn lóe lên rồi phụt tắt. Phải khoảng một phút sau đó chúng tôi mới đoán ra là tiếng nổ đã phá hủy trạm điện và một phút sau nữa để hiểu rằng chiến tranh đã thực sự bắt đầu. Cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh lúc này đã cho tôi cơ hội thoát khỏi tấm mạng ruồng bố của Việt Minh để tản về quê theo hàng chục ngàn người tản cư. Khi chiến tranh chuyển thành khốc liệt thì dân chúng Hà Nội túa ra thành một giòng tản cư kéo nhau ra khỏi thành phố. Từng đoàn người kéo lê trong ánh đêm, bỏ lại Hà Nội như một vùng đen thẫm phía sau đã hoàn toàn mất hẳn ánh đèn. Bầu không khí sợ hãi, nghi ngờ tỏa ra ám ảnh đám đông. Thỉnh thoảng lại có tiếng thì thào “Việt Gian, Việt Gian,” (những người Việt Nam phản bội hoặc tiếp tay dẫn đường cho Pháp.) Giữa đường tản cư, tôi gặp được một người bạn. Hai chúng tôi cùng quyết định đi chung mặc dù chưa biết rõ là phải đi đâu.

Tuy tôi rất muốn về Phủ Lý, chỗ gia đình tôi đang còn trú ngụ, nhưng tôi biết rõ là tôi đang bị Việt Minh truy nã và nếu về nhà chắc chắn sẽ bị bắt. Vì không biết phải về đâu, chúng tôi cứ lang thang từ làng này qua làng khác đi theo từng giòng người di tản. Sau cùng khi đã cạn hết cả tiền, tôi đổi chiếc áo sơ mi dư lấy tiền đi đò ngang qua sông và mua được hai củ khoai để cùng người bạn chia nhau ăn tối. Chúng tôi cũng chẳng biết bữa cơm lần tới là vào lúc nào. Trời đêm trên sông thật là lặng lẽ và ảm đạm. Đây là đêm đầu tiên trong những chuỗi ngày tôi chung sống với người bạn. Tôi vẫn sống như thế nhiều đêm về sau và sau này khi chia tay bạn, tôi đã sống như thế một mình.

Con đò lênh đênh trên sông Đáy là một loại đò thông thường dùng để chuyên chở, chuyển vận trên sông ngòi Bắc Phần. Đò dài khoảng 6 thước, phần giữa được che mái đơn sơ, phía dưới là hành khách co ro, ngồi sát vào nhau giữ lấy hơi ấm mặc dầu họ là những kẻ lạ nhau hoàn toàn. Khi đò lướt dần qua làng xóm, tâm sự của tôi cũng cay đắng như mùa đông gió lạnh bên ngoài. Người Việt Nam vào lúc này đang anh dũng chiến đấu chống Pháp trong một cuộc chiến mà chính tôi vẫn khao khát được góp phần. Nhưng “họ” đã ép tôi phải đứng ngoài. Chính Việt Minh là những người đã tàn sát bạn bè tôi và buộc tôi phải xuôi đò về Nam thay vì được quyền đứng vào cương vị chiến đấu như tôi vẫn hằng ấp ủ.

Cơn thất vọng cứ ngấu nghiến làm tôi lắm lúc bứt rứt gần như không chịu nổi. Tôi lại suy nghĩ về những người xung quanh, người này đang trở về cùng gia đình, người kia sắp về chỗ cũ để tiếp tục buôn bán. Có lẽ chẳng có ai là người phải âm thầm chịu đựng khổ sở như tôi. Tự nhiên tôi nhớ lại cuốn phim Je Suis un Évadé (Kẻ bị Tầm Nã) của Paul Muni. Tôi cảm thấy mình cũng cô đơn và đang bị truy nã chẳng khác nào nhân vật của Paul Muni. Lúc này có lẽ chỉ có những thanh niên đã sống qua cảnh tôi mới có thể cảm thấy hết được những cảm giác mỉa mai của một người phải đứng nhìn lý tưởng của mình đang trôi xa dần mà vẫn đành thúc thủ vì tình thế cấm đoán.

Giữa những người tản cư trên đò và giữa những làng ở hai bên bờ sông chỗ chúng tôi ngừng cơn sợ hãi Việt Gian ngày càng lan tràn. Lúc này Tự Vệ Địa Phương đang ở khắp mọi nơi và bắt tất cả những người bị tình nghi. Giữ một tấm gương con cũng đủ để bị bắt vì tấm gương có thể dùng ra hiệu cho máy bay. Mặc quần áo màu đỏ, trắng và xanh (màu quốc kỳ Pháp) chắc chắn là dấu hiệu chứng tỏ người mặc có cảm tình với thực dân Pháp. Những người bị bắt bị tra hỏi không ngừng về gốc gác quá khứ để kẻ tra hỏi biết rõ đích thực họ là ai. Tôi sống trong những cơn sợ hãi chập chùng, lo rằng mình sẽ bị bắt và sẽ bị tra hỏi cho đến khi lộ rõ tông tích. Lắm lúc trong cơn dằn vặt, tôi đã tự hỏi: “Phải chăng tôi là kẻ phản quốc?”

Có lần đò đậu chỉ ở khoảng một ki-lô-mét trong phạm vi Phủ Lý. Tôi cảm thấy vừa thống khổ, vừa giận dữ lại vừa cô đơn. Có lẽ những cảm giác này phát xuất một phần cũng là vì tôi đã cố hết sức đè nén những quyến rũ ngọt ngào đang thúc đẩy tôi rời thuyền trở lại với gia đình bất chấp hậu hoạn. Mặc dầu vậy, tôi vẫn cố tiếp tục xuôi đò đến bến đò Gián Khuất. Khi tàu đang đậu ở bến, tôi chợt nhớ rằng tôi có một người bạn học cũ. Quê anh ta ở Gián Khuất. Lúc này đò đã qua khỏi khu vực chiến tranh. Hơn nữa, tôi đã cạn sạch tiền và cũng chẳng còn gì để có thể đánh đổi. Tình cảnh gian nan lúc này khiến tôi quyết định liều vào làng xem thử họa may có thể tìm gặp được người bạn hoặc gia đình anh ta hay không?

Chẳng bao lâu sau tôi tìm ra chỗ người bạn còn đang cư ngụ. Gia đình anh ta vốn giàu có trong làng, làm chủ một căn nhà lớn và giao hảo mật thiết với chánh quyền Việt Minh địa phương. Như vậy là tạm yên cho tôi.

Tôi ở lại Gián Khuất khoảng một tháng. Mặc dầu Pháp đã bắt đầu từ Hà Nội đánh tỏa ra, dồn quân đội vũ trang thô sơ của ông Giáp về phía trước và quân Pháp đang từ từ làm chủ tình hình. Khi quân Pháp vào gần đến làng, tôi thấy rằng đã đến lúc phải đi. Tôi mượn tiền anh bạn rồi tiếp tục theo đò dọc trên sông Đáy. Mục đích của tôi là tới Bái Thượng, trên biên giới Lào, nơi tôi có một vài người bà con, họ hàng xa cũng là những người ủng hộ Đại Việt. Tôi dự định về đó tạm thời ẩn náu một thời gian.

Ngày nối tiếp đêm, tôi xuôi về hướng Nam, trở lại những ngày lạnh lẽo và cô đơn đã tưởng vĩnh viễn bỏ được sau tháng vừa qua. Nhiều ngày sau tôi đến Phát Diệm là nơi trung tâm công giáo Bắc Việt và cũng là một địa phương không mấy có cảm tình với cộng sản. Tại Phát Diệm mạng lưới Việt Minh thưa thớt trông thấy. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Đã từ bao lâu nay tôi mới lại có dịp bỏ hẳn được việc phải nơm nớp tự phòng vệ, canh chừng.

Từ Phát Diệm tôi đi Thanh Hóa bằng xe đò. Chiếc xe đò lần này cũng là loại xe Ô Tô chạy bằng than tôi đã có dịp đi từ Hà Nội vào Huế khi trước. Xe chở chúng tôi đi qua những vùng đồng bằng phẳng lặng. Làng mạc và ruộng lúa lộ ra qua những cánh cửa sổ đen nhờ nhợ của xe hàng. Giữa phong cảnh phẳng lặng, dấu hiệu mù mờ duy nhất chứng tỏ đất nước đang có chiến tranh là cảnh thỉnh thoảng lại có những nhóm nông dân tụ tập, diễn hành xa xa dưới bóng cờ Việt Minh. Khi qua Thanh Hóa, vùng đồng bằng chuyển thành đồi và chẳng bao lâu sau những ngọn đồi xoai xoải bỗng nối liền thành những núi non cao nguyên ở ranh giới Lào. Ở Bái Thượng, tôi tìm đến nhà những người họ hàng. Khi đến nơi cả người anh họ lẫn gia đình ông đều ngạc nhiên và chào đón tôi nồng hậu.

Chiến tranh chưa lan tràn đến ngôi làng hẻo lánh này. Ngôi làng nằm trải dọc theo miền đồi thưa thớt dân cư, mỗi nhà cách nhau khoảng ba, bốn ki-lô-mét. Nông dân trồng khoai lang, khoai mì và nuôi lợn, nuôi gà. Ở những vùng biên giới quanh đây, các gia đình phần đông sống cuộc sống tự túc. Khung cảnh đời sống đối với hoàn cảnh tôi thật là thuận lợi. Sống với ông anh họ, tôi có thể vừa biết rõ tình hình làng xóm lại vừa tránh được những cặp mắt tò mò. Tôi sống cùng phòng với hai người con của người anh, rẫy ruộng trồng khoai và đọc sách vào những lúc rảnh rỗi.

Trong khung cảnh đời sống của gia đình ông anh họ, tôi đã có dịp quan sát cách Việt Minh làm chủ Bái Thượng. Tôi đã phải ngạc nhiên trước tài tổ chức của Việt Minh dù là ngay ở những vùng xa xôi hẻo lánh như vùng này. Làng được một Ủy Ban Hành Chánh kháng chiến mới thiết lập điều động. Ủy Ban giữ việc hội họp, giảng giải tin tức và tuyên truyền. Ngoài ra Ủy Ban còn giữ trách nhiệm trông coi các vấn đề kiểm soát chẳng hạn như tìm hiểu đời sống trong làng xem ai đã đi đâu, người nào đang liên lạc với người nào hoặc gia đình nào có khuynh hướng chính trị ra sao. Đối với những người như anh họ tôi là những người ủng hộ một đảng phái khác thì Ủy Ban theo dõi kỹ lưỡng. Lâu lâu lại có người từ Ủy Ban đến nhà “ghé thăm.” Cứ mỗi lần nghe tiếng “cán bộ, cán bộ” từ dưới đường vọng lên là tôi lại lẻn ra vườn ẩn nấp cho đến khi họ về. Thường thì họ ngồi hàng giờ, uống trà, thăm hỏi anh tôi về việc con cái, họ hàng trong vùng. Họ hỏi anh tôi nghĩ thế nào về chiến tranh. Những người ghé thăm chẳng có vẻ gì thù nghịch rõ rệt trong khi nói chuyện. Ngược lại, anh tôi cũng giữ mối giao hảo với cán bộ. Nhưng phía sau bề mặt của tình xóm giềng, Ủy Ban Nhân Dân đang cố kiểm soát đời sống riêng tư của những gia đình ở vùng Bái Thượng.

Tôi ẩn nấp trong làng từ tháng 2-1946 cho đến tháng 1-1947, gần một năm bị buộc phải tù túng nhàn cư. Lúc này tôi chưa biết rõ tương lai rồi sẽ ra sao. Tôi cũng không hiểu rõ liệu có còn liên lạc được với Đại Việt hay không hoặc liệu Đại Việt có thật sự còn hay đã hoàn toàn chết hẳn. Việc ông Trương Tử Anh mất tích đã khiến Đại Việt kiệt quệ và chính tôi cũng đã mất liên lạc với đảng quá lâu. Lúc này tôi thấy mình đã nhúng tay quá sâu vào các hoạt động chính trị. Nhưng với những tư tưởng quốc gia và đã chống đối Việt Minh như tôi thì làm gì còn có tương lai chính trị? Hoặc nói rộng ra thì làm gì còn có bất cứ loại tương lai nào khác? Tình cờ tôi tìm được quyển The Razor ‘s Edge (Lưỡi Dao Cạo) của Somerset Maugham. Cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao lại có một quyển sách như quyển The Razor ‘s Edge ở một vùng như vùng Bái Thượng vào lúc đó. Chuyện viết về một thanh niên Mỹ đi tìm chân lý. Hành trình dẫn thành niên này đi qua Đức, Pháp, Hy Lạp và sau cùng đến Ấn Độ để truy nguyên ý nghĩa của những bí ẩn tiềm tàng trong sự sinh và sự diệt. Sau cùng, ở đoạn cuối câu chuyện, nhân vật chính đã tìm được những yên tĩnh cần thiết cho nội tâm, nếu không muốn nói là câu trả lời cho mục đích truy nguyên ban đầu. Tôi đã đọc đi đọc lại quyển Lưỡi Dao Cạo trong ấn bản tiếng Pháp tìm được lúc này và đã thông cảm tột cùng những suy tư của nhân vật chính. Có thể hành trình của tôi chưa hẳn đúng là đi tìm chân lý. Có lẽ tôi vẫn đang lần mò cố tìm lấy vai trò đích thực của mình trong công cuộc giải phóng đất nước. Nhưng dù sao đi nữa thì đây là vẫn là một chuyến hành trình vô định và tôi vẫn chưa hề tìm được giải pháp.

Vào năm 1947 cuộc chiến ở vào vị thế dằng co. Các lực lượng Pháp vẫn chiếm đóng tại các thành phố trong khi quân Việt Minh dồn về phía đồng bằng. Tôi đã liên lạc bằng thư được với ông thân, lúc này đang là một nhân vật phụ trách về vấn đề văn hóa cho chính quyền Việt Minh tại “Khu 3” thuộc vùng Phủ Lý. Ông thân tôi viết rằng ông sẽ lo liệu cho tôi trở về bình an miễn là tôi tìm cách để “phụng sự tốt cho quốc gia.” Những tranh chấp giữa Việt Minh và Quốc Gia lúc này đã tạm yên. Tôi dời đi Yên Mô, một tỉnh nhỏ gần Trung Tâm Công Giáo của Phát Diệm.

Tại đây tôi mở một lớp học tư nho nhỏ dạy toán vừa đủ để kiếm sống. Rồi có tin ông thân cho biết tôi có thể hợp thức hóa tình trạng hiện thời. Theo ông thân thì tôi chỉ cần tham gia vào Ủy Ban Kháng Chiến của Việt Minh tại địa phương. Ủy Ban này đang chờ tiếp nhận tôi. Đây có lẽ là một cách lựa chọn hợp lý nhất. Gia nhập Ủy Ban sẽ cho tôi đủ uy tín thoát khỏi mạng lưới công an và có đủ thời giờ để dò hỏi, tìm cách liên lạc lại với bạn cũ.

Ông thân tôi đã hoạch định mọi sự rất chu đáo. Chẳng bao lâu sau tôi được giới thiệu với Việt Minh tại Yên Mô là con trai của nhà nho Bùi Kỷ, một học giả trọng tuổi đang phục vụ trong Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Liên Khu 3. Tôi cũng chẳng rõ liệu những người trong ban văn hóa địa phương có biết rõ lai lịch quá khứ của tôi hay không. Nhưng dù có biết hoặc có nghi ngờ thì hiển nhiên là họ vẫn chịu đựng tôi.

Khi làm các công tác trong Ủy Ban Kháng Chiến Việt Minh, trách nhiệm của tôi có liên quan đến những vấn đề hoạch định những chương trình giải trí, những chương trình tường thuật thời sự và những chương trình tuyên truyền. Tôi đi quanh làng xóm cùng với một số cán bộ để đọc diễn văn, tổ chức triển lãm và cổ động những bài hát yêu nước. Chúng tôi triển lãm hình ảnh những cuộc chiến đang tiếp diễn, hình ảnh những vùng giải phóng đang tiến triển. Chúng tôi tường thuật những trận đánh, những phát triển kinh tế mới nhất và thảo luận việc “Bác Hồ đang anh dũng dẫn dắt quốc gia tiến đến Độc Lập.” Nhưng ngay cả những khi đang tuyên truyền cho Việt Minh, tôi vẫn cố tìm cách thoát thân. Tôi thấy rõ mình đang hoàn toàn giả dối, bịa đặt và tự kết luận rằng mình chẳng thể cứ nhắm mắt múa may như thế mãi.

Cách Yên Mô khoảng hơn 10 cây số, Phát Diệm có vẻ là nơi tôi có cơ hội tốt nhất để liên lạc với những phần tử quốc gia chống Cộng khác. Dân cư Phát Diệm gồm khoảng 30,000 người, phần đông là Công Giáo. Bên trong Phát Diệm toàn là Nhà Thờ, những trường học địa phương và các lớp học đạo. Ngoài ra còn khoảng 100,000 người công giáo khác sống bao quanh Phát Diệm. Mức độ cư ngụ đông đảo của các tín đồ công giáo tại Phát Diệm đã biến nơi này thành chỗ tụ họp công giáo đông đảo nhất trong toàn thể lãnh thổ quốc gia.

Người lãnh đạo Phát Diệm là Đức Giám Mục Lê Hữu Từ, một người nổi tiếng chống cộng. Ảnh hưởng và quyền lực của Đức Giám Mục Từ đối với Phát Diệm và những vùng lân cận được coi như tối thượng. Việt Minh đã có thái độ hòa hoãn với Đức Giám Mục Từ để tránh những sự đụng độ trực tiếp. Những dễ dãi của Việt Minh đã khiến Phát Diệm ngầm ngầm có được quyền lực gần như tự trị.

Tôi hay lui tới Phát Diệm để tìm kiếm bạn bè trong các đảng quốc gia và tìm hiểu tin tức về những tình hình chiến sự. Đầu tiên thì khu Công Giáo có vẻ là một nơi lạ lùng đầy những thày đạo mặc áo the đen, quần trắng cùng những nhà tu mặc áo dòng. Nhưng sau khi đã đến Phát Diệm vài lần, cảm giác lạ tan lần và tôi bắt đầu suy nghĩ về việc định cư tại đây thay vì sống với những giả dối múa may ở Yên Mô. Tôi cho rằng nếu liên lạc được đúng chỗ thì cuộc sống ở Phát Diệm chắc chắn sẽ thoải mái và tôi sẽ thoát được cảnh lúc nào cũng phải canh chừng công an Việt Minh.

Tuy thế khi đã nhiều lần đến Phát Diệm mà không hề liên lạc được với bạn bè cũ tôi lại bắt đầu thất vọng. Ngày kia, khi lang thang trên đường phố chợ, tôi bỗng thấy một thiếu nữ đứng sau quầy hàng bán các vật dụng linh tinh trông rất quen thuộc. Hỏi thăm tôi biết được đây là em của người thiếu nữ mà sau này là nhà tôi. Rồi tôi còn được biết thêm rằng vì hoàn cảnh chiến tranh xua đuổi, nên cả toàn thể gia đình cô cũng đã rời Hà Nội xuôi về Phát Diệm sinh sống. Cả gia đình cô lúc này đang còn cư ngụ ở Phát Diệm. Theo như tôi nhớ thì bà cụ nhạc tương lai của tôi không thích tôi lắm. Bà cho là tôi mạo hiểm nhiều quá và có vẻ là người thích phiêu lưu. Nhưng chuyện này chẳng hề làm tôi giảm bớt hân hoan. Chỉ ít lâu sau tôi đã làm quen trở lại với gia đình bà nhạc tương lai.

Từ đó, bất kỳ lúc nào có dịp rảnh rỗi tôi cũng đi bộ gần 20 cây số để tới Phát Diệm. Khi đã gần gũi hơn với khu công giáo tôi đã bắt đầu tìm được những đường giây liên lạc mong mỏi. Lúc gặp được hai người bạn thân nhất ở đại học lúc này cũng đang trốn tránh như tôi vì đảng đã tan rã tôi hết sức vui mừng. Gặp được tôi họ cũng vui mừng không kém. Chính họ cũng đã từng sống cuộc đời bấp bênh vô định chẳng khác gì tôi khi bị Việt Minh ruồng bố. Tìm được hai người bạn tôi thu xếp rời ngay Yên Mô và trốn về Phát Diệm.

Hòa hợp với người Phát Diệm cũng không lấy gì làm khó khăn. Trong khu công giáo tất cả tu sĩ, các vị thày và học sinh mặc áo nhà dòng hoặc những đồng phục tương tự đều được đối xử như huynh đệ trong tinh thần tôn giáo. Tôi cũng mình mặc áo dài và quần trắng để chuyển vào nhà nơi các bạn tôi đang sống cùng các thày đạo và hòa hợp được ngay.

Một trong những nhóm chính trị trong khu là một nhóm thuộc ảnh hưởng của ông Ngô Đình Diệm. Ông Diệm là một người công giáo và là một chính trị gia có nhiều tham vọng. Ông cũng chính là người mà ông chú tôi đã đề nghị ông Bảo Đại nên tuyển làm thủ tướng năm 1945. Anh ông Diệm là giám mục địa phận Vĩnh Long và chính bản thân ông Diệm cũng sống một cuộc đời kham khổ. (Nhiều năm sau ông Diệm đã đến một tu viện Mỹ sống cuộc đời Nhà Tu và làm bạn với Đức Hồng Y vùng New York là Hồng Y Spellman.)

Ít lâu sau, tôi và hai người bạn là Lê Quang Luật và Nghiêm Xuân Hồng bắt đầu hội họp với những người ủng hộ ông Diệm. Chúng tôi bắt đầu thảo luận việc tụ họp thành một mặt trận quốc gia. Cả ba chúng tôi đều đã mất liên lạc với đảng Đại Việt khá lâu và đang nóng lòng tiếp tục công việc. Tất cả đều không muốn khoanh tay nhìn Việt Minh làm chủ tình thế. Lúc này ở Phát Diệm đã có rất nhiều người chống đối Việt Minh và chúng tôi cho rằng phải tìm cách hướng dẫn những khuynh hướng này.

Công việc đầu tiên của chúng tôi là tuyển mộ và huấn luyện cán bộ. Nhờ được những người theo ông Diệm ủng hộ, chúng tôi đã thu hút được khoảng 15 đến 20 thày đạo và học sinh rồi bắt đầu mở lớp huấn luyện cho họ. Chương trình của chúng tôi bao gồm cả lý thuyết lẫn thực hành của việc cần thiết phải chống lại chủ nghĩa cộng sản. Cả hai ông Luật và ông Hồng đều ra công đặt hết tâm trí vào việc giảng dạy. Trong lúc giảng, chính chúng tôi cũng cố sức vận dụng luận lý để có thể tạo ra những nguyên tắc căn bản có thể dùng làm cương lĩnh cho một chủ nghĩa quốc gia. Chẳng những chúng tôi chỉ chống đối những áp đặt quyền lực sai lầm của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam mà chúng tôi còn đưa ra cả những khuyết điểm của các chính sách kinh tế và chính trị của Cộng Sản khi đem áp dụng vào một nước nhỏ và chưa phát triển hoàn toàn như Việt Nam. Trong khi đó thì chủ nghĩa tư bản lại thiếu những nề nếp luân lý căn bản thiết yếu cần phải có trong xã hội Việt Nam. Tuy đã cố gắng tột độ mà cả ba chúng tôi vẫn cảm thấy hình như giải pháp kiện toàn lúc nào cũng chỉ ở vừa khỏi tầm tay.

Khi đã chán bàn luận chính trị, chúng tôi bàn luận văn chương và khi đã chán bàn luận văn chương chúng tôi lại đọc thơ hoặc ngâm to cho tất cả cùng nghe vào những giờ rảnh rỗi. Thời gian còn lại chỉ vừa đủ cho chúng tôi có thời giờ giảng dạy các lớp. Công việc giảng dạy kích thích thần trí và đòi hỏi suy tư rất nhiều nên chúng tôi có cảm giác là mình chẳng bao giờ cần ngủ. Thỉnh thoảng, khi rảnh rỗi tôi lại xuống thăm gia đình bà nhạc. Lúc này tôi là một thanh niên vừa bận bịu với công việc, vừa bận bịu với những tình cảm yêu đương lần đầu. Đây quả là một thời gian đáng nhớ của tuổi trẻ.

Rất ít người công giáo trong lớp hoặc những người công giáo giao tiếp với chúng tôi biết rõ tôi là không phải là người đạo công giáo. Thấy tôi mặc áo dài the đen, phần đông những học viên đều cho rằng tôi là một vị thày đạo và chắc chắn là một người sắp sửa được phong làm linh mục. Họ gọi tôi là “thày già” và đã có lần xin tôi cầu nguyện trong một buổi lễ hành xác. Vì chẳng nhớ gì ngoài câu “Lạy Cha” đã được nghe nhiều lần trong các buổi cầu kinh, tôi điếng người vì sợ. Suốt buổi cầu nguyện hôm đó tôi ê a bằng một giọng đọc kinh nửa mơ hồ, thì thào nửa lùng bùng không thành chữ chỉ có những câu “Lạy Cha” ở những đoạn cuối cùng thì đã vừa to lại vừa rõ.

Vào cuối năm 1948, tin tức lan truyền qua Phát Diệm rằng Pháp tuyên bố sẽ thừa nhận Việt Nam độc lập nhưng không chấp thuận việc để cộng sản cầm đầu. Chi tiết hơn nữa thì Pháp muốn ông Bảo Đại tiếp tục nắm quyền và hình như đã yêu cầu ông Bảo Đại đứng ra thiết lập chánh phủ mới. Tin tức còn nói rằng ông Bảo Đại đã nhận lời. Ông Bảo Đại không ủng hộ Việt Minh nhưng cũng tuyên bố rằng ông chỉ chịu đứng ra lập chính phủ nếu Pháp thực sự trao trả độc lập cho Việt Nam.

Trong khi đó những tin tức khác cũng lan truyền khắp nơi. Ông chú tôi cũng đã từ Hồng Kông về lại Việt Nam và đang ở Sài Gòn nơi Pháp hãy còn chiếm đóng. Ông Ngô Đình Diệm cũng ở Sài Gòn nhưng vẫn cẩn thận tránh xa những gì Pháp chủ trương, ít nhất là ông đang cố tránh xa những điều Pháp chủ trương vào lúc này. Sau hai năm chiến tranh dằng co mà vẫn chưa có giải pháp quân sự thỏa đáng lúc này Pháp đang cố tìm một giải pháp chính trị khác. Nhưng họ sẽ chịu nhượng bộ đến mức nào?

Trong khung cảnh tương đối yên tĩnh của khu công giáo, Hồng, Luật và tôi đều chăm chú lắng nghe tình hình. Chúng tôi có đủ thông minh để hiểu rằng dự định tổ chức một phòng trào chính trị do chính chúng tôi phát động chẳng qua chỉ là một chuyện thiếu thực tế phát xuất phần nhiều do thất vọng thúc đẩy. Tuy chúng tôi chẳng thể tự mình đưa ra giải pháp cho các phần tử quốc gia nhưng có thể những dự định của ông Bảo Đại sẽ làm được chuyện đó. Mặc dầu từ trước đến nay, ông Bảo Đại chưa hề có hành động nào chứng tỏ ông có đủ năng lực hoặc quyết tâm và đã hẳn ông quả không phải là một chính khách quả quyết, nhưng ông vẫn được mọi người ủng hộ. Việc ông thoái vị đã chứng tỏ rằng ít ra ông cũng có thể đặt quyền lợi của quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân. Tất cả đều còn nhớ câu tuyên bố thà làm công dân của một quốc gia tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ.

Lúc này một vài người trong nhóm chúng tôi trở về Hà Nội, Hải Phòng để tìm hiểu tin tức. Họ đã gửi đại biểu đến cả Sài Gòn và đến cả chỗ ông Ngô Đình Diệm để tham khảo những nhận xét của ông về tình hình lúc này. Thật ra vấn đề nan giải nhất của những phần tử quốc gia, những người ủng hộ ông Diệm, những đảng viên Đại Việt và những đảng viên VNQĐD là cần phải tìm người lãnh đạo.

Chúng tôi biết rằng mình đang bị đặt vào một tình thế khó xử. Một mặt chúng tôi muốn độc lập cho quốc gia; Đây vốn là mục đích của tất cả mọi hành động. Mặt khác chúng tôi lại sợ rằng rồi đây mình sẽ bị cô lập trong cuộc chiến chống Pháp. Tất cả những phần tử quốc gia đều biết rõ rằng nếu để Việt Minh làm chủ tình hình thì sau khi độc lập cộng sản sẽ diệt trừ họ đầu tiên. Bất kể họ bất đồng ý kiến ra sao, tất cả các phần tử quốc gia đều cùng đồng quan điểm trên vấn đề này. Tất cả đều đã mục kích rõ ràng các thủ đoạn của Việt Minh chẳng hạn như những Ủy Ban Nhân Dân, những bộ máy công an, những đội ám sát và những ruồng bố, áp đặt để thỏa mãn tham vọng nắm trọn quyền hành của họ trước đây. Một khi Việt Minh đã làm chủ tình hình thì chẳng bao giờ họ lại để các phần tử quốc gia sống sót.

Trong tình thế này chúng tôi có thể miễn cưỡng chấp thuận giải pháp Bảo Đại. Tuy rằng hợp tác với Pháp dù là bằng cách nào cũng làm chúng tôi ghê sợ nhưng nếu chấp nhận đưa tương lai quốc gia và số mệnh của tất cả vào tay những nhân vật như ông Hồ và Võ Nguyên Giáp thì sự thể cũng chẳng khác nhau bao nhiêu.

Trong rất nhiều tháng cả Hồng, Luật lẫn tôi đều phân vân, bối rối không hiểu phải nên theo giải pháp nào. Chúng tôi để hết tâm trí vào những tiếng rè rè của chiếc radio cổ lỗ cố gắng tìm hiểu tin tức. Chúng tôi nghe rằng Pháp đã tuyên bố rõ ràng, hứa sẽ nhìn nhận độc lập của Việt Nam. Đây là một điều mà họ chưa bao giờ đề cập đến khi đàm phán với Việt Minh. Sau cùng chúng tôi cho rằng chẳng thể tin được lời tường thuật của những người khác và đã kết luận tự mình phải tìm hiểu rõ rệt mọi chuyện trước khi có thể quyết định bất cứ điều gì. Tự mình tìm hiểu tin tức có nghĩa là phải vượt ra khỏi vùng Việt Minh chiếm đóng. Nhưng tôi quyết định phải gặp ông thân trước đã.

Vào mùa xuân năm 1949, cả gia đình tôi gồm ông thân, mẹ tôi và các anh chị đều chung sống ở một ngôi làng nhỏ gần Phủ Lý. Phủ Lý không còn nữa. Ngôi làng đã bị chính dân làng thiêu hủy sau một cuộc chiến tranh tiêu thổ kháng chiến. Lúc này ông thân tôi đã được nhiều người biết đến trong khu Việt Minh. Anh tôi -lớn hơn tôi 7 tuổi đang là giáo sư văn chương- cũng đã làm việc với Việt Minh. Tuy thế chính trị chưa phải là một vấn đề ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống tình cảm trong gia đình chúng tôi.

Khoảng cuối tháng 4 tôi lẻn ra khỏi khu Công Giáo trên một chiếc thuyền con đi ngược dòng về Phủ Lý. Tôi ở lại nhà ba ngày quây quần bên gia đình. Nỗi hân hoan chỉ bị mất đi phần nào khi chúng tôi biết rằng rồi đây chiến tranh sẽ lại chia cắt chúng tôi và thời gian chia cắt lần tới có thể còn lâu hơn nữa. Tôi trình bày với ông thân những lý do tôi cần về Hà Nội và nói thêm rằng tôi đang sửa soạn về Hà Nội, không hiểu ông cụ nghĩ sao? Tôi bảo rằng tôi không thể ở lại bên cạnh gia đình để giả dối rằng mình đang nhiệt tâm ủng hộ một cuộc cách mạng mà trong tâm tôi hoàn toàn chống đối.

Khi nghe nói đến cảnh chia cắt gia đình thì ông cụ tôi cũng băn khoăn bứt rứt chẳng khác gì tôi. Một khi chúng tôi đã ở hai bên của làn ranh giới Pháp-Việt Minh thì chẳng ai còn có thể cả quyết được ngày gặp lại. Tuy vậy, ông thân đã hiểu và hoàn toàn thông cảm cho tôi. Thay vì cản ngăn ông đã tiễn tôi trên quãng đường đầu của chuyến đi thuyền trở về Phát Diệm. Ông cốt cố kéo dài cuộc đưa tiễn càng lâu càng tốt. Khi chia tay giã từ ông thân tại bến sông Đáy thì cả tôi lẫn ông thân đều có cảm giác rằng đây là lần chót. Đau buồn thay vì rồi đây cảm giác này lại chuyển dần thành sự thực. Những biến cố cắt lìa quê hương chẳng hề bỏ qua hoàn cảnh của chúng tôi cũng như đã chẳng hề bỏ qua cho bao nhiêu trăm ngàn gia đình Việt Nam khác.

Sau khi chia tay ông thân, tôi trở lại khu công giáo để cùng Hồng và Luật hoạch định chương trình hoạt động. Từ Phát Diệm chúng tôi sẽ phải tìm đường vượt qua một khu vực bờ biển nơi Việt Minh canh gác kỹ lưỡng rồi đi thuyền tới Hải Phòng. Vì khu vực này nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh, chúng tôi quyết định sẽ đi riêng rẽ. Chúng tôi cố đi thành những nhóm thật nhỏ để tránh bị phát giác. Hơn nữa, chúng tôi còn chia nhau tản ra để khỏi bị bắt cùng một lúc.

Đến đầu tháng 5 thì tới phiên tôi lên đường. Trong một đêm mưa âm u, tôi đi theo một cán bộ công giáo mang súng Sten đi về mé bờ biển. Trong bóng tối dày đặc, tôi không nhìn thấy gì. Bỗng người dẫn đường dừng bước chăm chú nghe ngóng. Rồi không hề ra hiệu cho tôi, anh thình lình nhảy vọt về phía bờ biển. Trong bóng tối tôi nghe giọng anh ta trầm và thật sắc: “Nhân danh phong trào quốc gia Việt Nam, tôi kêu gọi các anh giúp đỡ.” Một giây sau tôi đến cạnh anh để cùng phụ đẩy một chiếc thuyền chài do hai người thuyền chài đầy vẻ sợ sệt đang điều khiển. Dưới trời mưa tầm tã, chúng tôi phải mất ba giờ để đến nơi một chiếc thuyền con đang đậu ngoài khơi chờ đợi.

Ngay cả sau khi đã lên thuyền tôi vẫn chẳng thể gạt bỏ được những ám ảnh khốn khổ đã trải qua khi lênh đênh trên biển vào lần trước đây. Sau một ngày đầu tương đối êm dịu, cơn sợ hãi lại chuyển thành sự thật. Mưa làm chiếc thuyền con tròng trành và biển động dữ dội, xô những con sóng cao đập bổ vào bong. Vào ngày thứ hai, cột buồm chính đã bị sóng đánh gãy và thuyền cứ lênh đênh tự trôi dạt vào bờ. Trên thuyền hành khách hoàn toàn náo động. Tất cả hành khách đều sợ tàu sẽ trôi quanh và lọt vào khu vực tuần tiễu của Việt Minh. Nhưng sau đó đội thủy thủ trên thuyền đã cố gắng dựng tạm một cột buồm nhỏ hơn và lại đưa thuyền một lần nữa hướng ra biển.

Nhờ vào buồm phụ, ba ngày sau chúng tôi đến Hải Phòng. Lúc thuyền cặp bến nỗi vui mừng thoát hiểm bỗng nhiên tắt ngấm khi tôi chợt nhớ rằng mình đang đứng trong một vùng lãnh thổ do chính Pháp kiểm soát. Đây quả là một cảm giác khó chịu vô tả. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"