Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

5 – Cách Mạng Tháng 8


Chương 5
Cách Mạng Tháng 8

Hoàng Đế Bảo Đại là ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Ông là ông vua trị vì dưới thời Pháp thuộc, nhưng trên thực tế vai trò của ông chẳng qua chỉ là một vai trò nghi lễ. Kể từ năm 1932, ông chỉ nắm quyền hành trên giấy tờ mà thôi. Con người của ông rất phức tạp. Vừa thông minh, tinh tế lại vừa thụ động, ham săn bắn, mê đánh bài và thích gần gũi đàn bà. Mặc dù đã cảm thấy rõ ràng trách nhiệm của mình đối với nền độc lập Việt Nam, ông vẫn chỉ tranh đấu bằng một thái độ thật nhu nhược và bất nhất. Từ khi lên ngôi, ông Bảo Đại đã nhiều lần thúc đẩy Pháp cải cách để tiến đến một chánh quyền quốc gia. Tuy vậy ông vẫn luôn trùng trình và không đủ can đảm giữ vững lập trường của mình.

Hiện thời, vì Nhật đốc thúc, ông đã tuyên bố Việt Nam hoàn toàn độc lập và đang xoay sở để tiến hành việc tạo dựng một chánh phủ quốc gia. Mọi người đều ngạc nhiên khi ông Bảo Đại cử học giả Trần Trọng Kim ra làm thủ tướng. Sự ngạc nhiên chính là vì ông đã bỏ qua một chính trị gia thực tiễn khác đã sát cánh với người Nhật từ nhiều năm về trước là ông Ngô Đình Diệm, người sau này là tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Lúc này, đa số những người hiểu rõ tình hình đều cho rằng nếu Nhật đảo chánh Pháp chắc chắn ông Diệm sẽ là người đứng ra nắm chánh quyền. Chẳng một ai nghi ngờ gì về chuyện ông Diệm đang nóng lòng chờ đợi biến cố đảo chánh của Nhật. Tuy vậy, vì lý do riêng Nhật đã quyết định gạt bỏ ông Diệm.

Biến chuyển Bảo Đại đề cử cụ Trần Trọng Kim đến vừa lúc các đảng phái quốc gia đang sửa soạn mở cuộc tranh quyền ồ ạt. Việt Minh đã củng cố được những căn cứ du kích ở Việt Bắc. Ông Trương Tử Anh đã thiết lập căn cứ ở Bắc Giang và Thanh Hóa. Khi tin tức về việc đề cử được truyền ra, tôi đã nhận được lệnh trình diện ở căn cứ Thanh Hóa, nhưng lúc này ông Trương Tử Anh lại có lệnh muốn tôi đến Huế, nơi chính quyền của ông chú tôi sắp được thiết lập. Ở Huế tôi vừa phải theo dõi chánh quyền mới, lại vừa phải đứng ra làm đường dây liên lạc giữa ông chú tôi và ông Trương Tử Anh.

Tự nhiên thế giới của tôi trở nên lớn rộng. Mới đây tôi chỉ là một sinh viên ngành toán, có hoạt động chính trị nhưng chắc chắn không phải là một trong những nhân vật quan trọng. Bỗng nhiên giờ đây tôi trở thành một yếu nhân của chánh quyền Việt Nam với một công tác rõ rệt. Tôi tự hỏi, chẳng hiểu đây là sự thật? Hay sự thật chỉ là hình ảnh một Bùi Diễm thúc thủ đang hiện diện ở đâu đây để mỉm cười vì sự thay đổi chính trị “Lên Ông” này? Chính cảm giác này rồi đây còn đến với tôi qua rất nhiều lần khác về sau.

Cuộc viễn du xuống Huế thật là sởn tóc gáy: Ba ngày, có lẽ đúng hơn là ba đêm, lóc cóc qua những con lộ nhỏ hẹp trên chiếc xe buýt chạy than cũ kỹ như cái bẫy chuột. Lúc này Đệ Nhị Thế Chiến còn đang tiếp diễn, và những căn cứ của Nhật ở Việt Nam vẫn bị đồng minh dội bom nên oanh tạc cơ của Hoa Kỳ đã biến đại lộ dẫn đến Huế thành một tử lộ trong lúc ban ngày. Bởi thế chúng tôi chỉ đi được từ hoàng hôn cho tới khi rạng đông. Tôi không hiểu là đi đêm trên một chiếc xe như vậy thì có gì khác biệt với những nguy hiểm ban ngày khi Mỹ dội bom? Tuy vậy, trái hẳn với sự dự liệu của tôi, sau ba ngày chiếc xe cọc cạch đến Huế an toàn. Xe vượt qua giòng sông Hương yêu kiều rồi cho chúng tôi xuống ở một trạm xe buýt tỉnh lị.

Trạm xe buýt không phải là chỗ độc nhất có vẻ tỉnh lị ở Huế. So sánh với Hà Nội, thành phố Huế có vẻ yên lặng, u trầm. Những đền đài lăng tẩm tao nhã của thế kỷ 19 bao quanh không khí tĩnh mịch của Huế, nơi hoàng đế thiết triều. Đây cũng là nơi thực dân dựng những dinh thự uy nghi dành riêng cho những nhân vật cao cấp. Những dinh thự này giờ là nơi cư ngụ của chánh quyền mới.

Quẳng gói lên vai tôi bước về mé cầu Tràng Tiền tìm đường tới nơi cư ngụ. Vừa đi đầu tôi vừa vang lên âm hưởng của hai chữ Độc Lập. Tổ quốc đã thật sự tự do. -Ít ra lúc đó tôi tin là vậy. Tôi đang ở đúng vào nơi chánh quyền mới có được tự do suốt từ hồi năm 1884 cho đến nay. Khi đến nơi, tôi hãnh diện nói cùng hai người gác cửa: “Tôi là Bùi Diễm, cháu Thủ Tướng, xin phép được gặp Thủ Tướng.” Nghe xong một người chạy vào thông báo rồi lại trở ra ngay dẫn lối cho tôi.

Bước vào phía trong tôi sững sờ vì vẻ đẹp trước mắt. Những hàng hiên dài trang trí tao nhã, những bậc tam cấp bóng loáng, những trần nhà trạm trỗ. Tôi đang ngỡ ngàng vì vẻ xa hoa diễm lệ thì ông chú tôi đã đến sau lưng nhỏ nhẻ: “Đấy Diễm, cháu hãy xem kỹ đi để hiểu vì sao Pháp lúc nào cũng cố bám vào thuộc địa Việt Nam.”

Uống trà xong, ông chú tôi ngỏ ý mời tôi ở lại. Tôi cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Từ trước tới nay, ông vẫn thích nói chuyện với tôi và lúc nào ông cũng coi tôi là một đứa cháu cưng. Thỉnh thoảng tôi vẫn ở chơi nhà ông ngoài Hà Nội. Hơn nữa, tôi biết rằng vì hiếm muộn con trai, vợ chồng ông vẫn coi tôi như con ruột. Vì thế, tôi thay đổi quần áo, sửa soạn ở luôn trong dinh thự.

Sau khi mọi chuyện lặt vặt đã hoàn toàn ổn định, cụ Kim kể về chuyện đề cử. Chuyện cũng đã làm cụ ngạc nhiên không kém gì những người khác. Liền ngay trước khi lật đổ Pháp, Nhật đã mang cụ Kim từ Singapore về Sài Gòn. Tại Sài Gòn, Nhật giữ cụ ở một căn nhà riêng chờ đợi biến chuyển. Ông Ngô Đình Diệm cũng ở Sài Gòn vào thời gian này và cũng liên lạc thường xuyên với người Nhật trong niềm hy vọng rằng biến chuyển sẽ đưa thời cơ đến với ông.

Ngày nọ bỗng một người Nhật mời cụ Kim đến nói chuyện với Ban Tham Mưu của họ tại văn phòng trung ương. Khi đến nơi họ bảo rằng vua Bảo Đại yêu cầu được gặp cụ Kim và cụ Kim nên về Huế càng sớm càng tốt. Họ chẳng hề đề cập bất cứ điều gì có liên quan đến chánh quyền mới và chỉ nói vắn tắt với cụ Kim rằng Bảo Đại yêu cầu được gặp. Khi tin được chuyển xong thì cụ Kim ra về, suy nghĩ xem xét về lời nhắn. Lúc bước qua hành lang, cụ Kim thình lình gặp ông Diệm, một chính khách đang nôn nóng đợi chờ những tin tức của Nhật. Thấy cụ Kim từ văn phòng bước ra, ông Diệm chạy vội lại hỏi thăm ngay: “Có tin gì không? Có tin gì không?” Chính ông Diệm cũng chẳng biết gì hơn cụ Kim.

Trưa hôm sau cụ Kim đến Huế, lắng nghe lời ông Bảo Đại mời cụ ra giữ chức thủ tướng và thiết lập chánh phủ. Nghe xong cụ Kim hỏi ngay. “Tại sao ngài lại chọn tôi mà không chọn ông Ngô Đình Diệm?” ông Bảo Đại trả lời rằng: “Là vì tôi đã cố liên lạc với ông Diệm gần hơn tuần nay, nhưng người Nhật nói với tôi rằng họ không biết ông ta ở đâu. Hiển nhiên là ông Diệm đang trốn tránh và tôi chẳng thể chờ lâu hơn được.”

Câu chuyện theo cụ Kim kể thì quả là Nhật đã giữ cả hai, cả cụ Kim lẫn ông Diệm trong suốt thời gian họ tìm hiểu tình hình, để tiện việc khi cần. Dẫu rằng ở vào lúc tuổi hãy còn nhỏ như thời đó, tôi đã khâm phục những cách họ vận động khéo léo để lợi dụng cả chánh quyền thực dân Pháp lẫn chánh quyền Việt Nam. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao, nhưng rõ rệt là Nhật cho rằng tình thế Việt Nam lúc này phải cần một học giả trầm lặng như ông chú tôi làm thủ tướng hơn là một chánh trị gia có nhiều ý chí như ông Ngô Đình Diệm. Kết quả là cụ Trần Trọng Kim đang ở dinh thự Huế trong khi ông Diệm vẫn ở Sài Gòn, hoàn toàn mù tịt về tình hình chính trị.

Cụ Kim vẫn còn bị những khuynh hướng tổ chức theo lối cổ ngày xưa ảnh hưởng rất nhiều. Khi tìm người ra phục vụ, cụ đã mời những người vừa xuất sắc về học vấn, vừa chánh trực thanh liêm về cùng làm việc. Cụ coi đây là những đức tính tiên quyết, bắt buộc phải có ở những người phục vụ đất nước. Khi nhìn lại bằng con mắt hiện thời thì quả thật lúc loạn ly bấy giờ chưa chắc đã phải là lúc của những đức tính như vậy.

Khuynh hướng chính trị của cụ Kim phản ảnh rõ rệt qua cách cụ mời những nhân viên vào chánh phủ. Tất cả những người cụ mời đều là những phần tử ưu tú nhất. Họ là những tinh hoa của xã hội Việt Nam. Trong số Bộ Trưởng, có vài người là giáo sư cũ của tôi. Chẳng hạn như Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn là thày dạy tôi toán. Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên Phan Anh là thày dạy tôi văn chương Pháp. Vì chánh quyền vừa được thiết lập nên các Bộ Trưởng cùng gia đình đều cùng ở trong dinh thự và đang cố gắng tìm nơi trú ngụ. Mọi người cùng sống chung với nhau tạo ra một bầu không khí lẫn lộn nửa đại gia đình, nửa khuôn viên đại học.

Khi ăn tối, tất cả tề tụ quanh chiếc bàn lớn ở phòng ăn, chuyện chính trị bàn cãi sôi nổi. Tuy thế, hầu hết các nhân viên trong cả chánh phủ đều thiếu kinh nghiệm chính trị thực tiễn. Khi giải quyết các vấn đề chính trị, họ thường giải quyết dựa vào các quan niệm lý thuyết. Họ sẵn sàng tán thành các giải pháp được đề ra, miễn là những giải pháp đó có vẻ hợp luận lý. Các nhân viên chánh phủ lúc này thường cho rằng một khi họ đã suy nghĩ thấu đáo vấn đề thì mọi việc còn lại đều tùy thuộc vào những sắc lệnh của chánh phủ đưa ra. Họ nghĩ là chỉ cần ra lệnh là lệnh của họ sẽ tự nhiên hoàn thành. Tuy phần đông các nhân viên trong chánh phủ đều giải quyết các khó khăn dựa trên những quan niệm lý thuyết, chẳng một ai trong họ là bù nhìn. Mặc dầu quyền lực đang thực sự trong tay Nhật, họ chưa hề suy nghĩ đến bất cứ điều gì vi phạm đến bổn phận hoặc lương tâm.

Nhưng tuy không hề nghe lệnh, họ cũng chẳng hề biết rõ thấu đáo tình hình chính trị và quân sự đang gây sóng gió chung quanh. Chẳng hạn như việc chánh phủ không có lấy một đại biểu ở Hà Nội. Chính phủ phải nhờ vào điện tín để liên lạc. Họ chẳng biết tí gì về người Mỹ, trong khi đó thì ông Hồ đang cố hết sức dụ dỗ Hoa Kỳ. Theo tôi nhớ thì hình như các Bộ Trưởng chưa bao giờ nói gì đến chuyện ông Hồ Chí Minh hoặc Việt Minh. Có lẽ họ đang sống trong một khoảng trống. Hoặc có lẽ vì theo khuôn mẫu của các triều đình cũ khi trước, họ đã tự cho mình là trung tâm của vũ trụ và vạn vật đều quay quanh họ.

Ngay cả đến người Nhật, mà tôi nghĩ là họ phải hiểu hơn cả, họ cũng chẳng biết rõ ý định của người Nhật. Dường như họ cũng chẳng lo lắng mấy về vấn đề người Nhật sắp sửa thất bại. Tôi còn nhớ vào một buổi tối có cuộc bàn cãi sôi động về vấn đề Nam Bộ. Lúc đó Nam Bộ còn được gọi là CochinChine. Người Nhật lúc này đang chống đối việc trả lại chủ quyền cho Việt Nam. Trong khi bàn luận tìm cách lấy lại Nam Bộ, ông chú tôi cho biết cụ đã thảo luận vấn đề này với đại sứ Nhật là ông Yokahama. Ông chú tôi cho biết đại sứ Yokahama đã hứa sẽ xin chỉ thị của chánh phủ Nhật và hứa “sẽ hết mình.” Như vậy vấn đề tạm coi là được giải quyết. Trong khi đại sứ Nhật đang “cố hết mình” thì chánh phủ Việt Nam lúc này cho rằng chẳng còn việc gì cần làm thêm nữa.

Đây là lần đầu tiên cụ Kim và các Bộ Trưởng mới bắt tay vào việc thiết lập chánh phủ. Vì không có những khuôn mẫu kinh nghiệm để noi theo họ đã phải tự tổ chức các cơ quan quân sự quốc gia, tự cải tổ giáo dục và tự thiết lập gần như toàn bộ các cơ quan cần thiết cho một chánh phủ mới. Họ cố nhận định lần hồi những khó khăn chính và cố tìm cách giải tỏa. Họ cho rằng sự hiện diện của họ trong chánh quyền là vì bổn phận. Họ sẵn sàng từ bỏ mọi sự khi có lý do chánh đáng.

Tôi ở Huế khoảng 2 tháng, quan sát các Bộ Trưởng, nghe họ kể chuyện và đi tham quan thành phố cho tới khi tôi hoàn toàn quen thuộc với tất cả những di tích lịch sử. Và sau khi đã xem hết những cảnh ở Huế thì tự dưng tôi lại thấy nhớ Hà Nội. May thay, ông chú tôi lại vừa đề cử một đại biểu đại diện cho chính phủ ở Hà Nội. (Người đại diện là Khâm sai Phan Kế Toại, một vị quan già mà cả ông thân và ông chú tôi đều biết.) Tôi mừng không thể tả khi ông Toại ngỏ lời mời tôi cùng về Hà Nội. Tôi sẽ là người liên lạc bán chánh thức giữa vị đại biểu mới của Hà Nội và chánh phủ.

Tôi đã biết rõ công việc của một người đưa tin chẳng lấy gì làm nặng nhọc. Tôi đã từng làm người đưa tin riêng cho ông Trương Tử Anh và ông chú tôi suốt 2 tháng mà chưa từng đưa tin gì cho cả hai bên. Tuy vậy tôi cần có lý do để về Hà Nội. Lý do này hoàn toàn tốt đẹp.

Ngược hẳn với Huế, Hà Nội vào cuối tháng 7 năm 1945 đang xôn xao, vì cả tin tức, tin đồn lẫn những vận động ngầm. Một điều ai cũng rõ là ngày tàn của đế quốc Nhật đã gần kề. Trong khi ông chú tôi nghĩ rằng còn có nhiều thời giờ để thiết lập chính quyền và xếp đặt mọi việc đàng hoàng với Nhật thì những người khác đang cố củng cố một chỗ đứng vững vàng để có thể mưu mô sửa soạn trước cho giai đoạn sắp tới.

Về đến Hà Nội, tôi liên lạc ngay với ông Trương Tử Anh. Ông Anh bảo rằng lực lượng Đại Việt đã thiết lập căn cứ hoàn toàn vững chắc, nhưng thay vì đến một trong những nơi căn cứ, tôi nên ở lại với ông tại Hà Nội. Ông cho rằng tại Hà Nội tôi có thể làm các công tác chính trị hữu hiệu hơn.

Càng gần ông Trương Tử Anh tôi lại càng khâm phục tài tháo vát của ông. Điều kỳ bí về ông Trương Tử Anh là chẳng một ai biết chính xác ông quê quán từ đâu hoặc quá khứ ra sao, nhưng ông có vẻ là người có bản lãnh. Phía sau những cung cách trầm tĩnh và nghiêm nghị bề ngoài, ông Trương Tử Anh là một người vừa thông minh lại vừa có lòng tin vô biên vào khả năng của mình trong việc xây dựng tương lai cho đất nước.

Vào tháng 7, ông Anh lại gửi tôi về nhà ông chú tôi ở Huế. Nhiệm vụ của tôi là phải trình bày để ông chú tôi rõ là ông phải tin vào sự hậu thuẫn của Đại Việt nếu có chuyện gì trục trặc. Vì vậy tôi lại vượt nguy hiểm trở về Hà Nội bằng đường lộ dọc ven biển vào ban đêm. Nếu so với chuyến đi lần trước, khi tôi đến Huế lần đầu thì lúc này Mỹ dội bom thường xuyên hơn. Mới đây Bộ Trưởng Y Tế trong chánh phủ đã tử nạn trên đường vào Hà Nội.

Ở Huế tình hình đã thay đổi rất nhiều. Tôi có nói chuyện với ông chú tôi về những lời dặn dò của ông Trương Tử Anh, nhưng hình như tâm tư của ông hãy còn ở những vấn đề nào khác. Theo tôi thấy thì có lẽ ông không màng gì đến chuyện tranh chấp quyền lực trong tương lai. Ngược lại, ông đã nghe về Việt Minh và đang tự hỏi xem thật sự họ có phải là nhóm người lãnh đạo hữu hiệu nhất cho quốc gia vào những ngày khó khăn sắp tới hay không? Ông bảo tôi rằng hình như đảng Việt Minh đã được Hoa Kỳ ủng hộ. “Nếu đúng như vậy thật,” ông nói tiếp “thì ta vui lòng nhượng quyền cho họ.”

Lẽ tất nhiên là ông chú tôi đã nghe được những lời tuyên truyền của Việt Minh về những liên hệ giữa họ và Hoa Kỳ. Ông Hồ đang lợi dụng sự liên lạc giữa ông và một đội nhân viên của Văn Phòng Hoạt Vụ Chiến Lược (tiền thân của Cục Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ) đã nhảy dù xuống khu vực của Việt Minh vào tháng trước đây, để thuyết phục cả bạn lẫn thù rằng ông đã được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Rõ ràng là Hoa Kỳ đã có một tiếng nói rộng lớn ảnh hưởng đến tương lai Việt Nam. Không phải chỉ riêng ông chú tôi mà gần như tất cả các lãnh tụ khác cũng đều tin rằng bất kỳ nhân vật nào được Hoa Kỳ hậu thuẫn cũng sẽ là người tốt nhất nên đứng vào cương vị hướng dẫn quốc gia sau thời loạn lạc. Tuy các lãnh tụ khác không hẳn cùng có tư tưởng Khổng giáo như ông chú tôi nhưng vẫn cho rằng tất cả đều cùng đặt quyền lợi quốc gia lên trên tất cả vì dẫu sao họ cũng là người Việt.

Vào ngày mùng 6 tháng 8 năm 1945, tôi vẫn ở Huế khi Hoa Kỳ dội quả bom nguyên tử đầu tiên ở Hiroshima và ba ngày sau, một trái khác ở Nagasaki. Tin tức tường thuật cho biết hàng trăm ngàn người chết ngay tại trận. Một tuần sau thì có tin Nhật đầu hàng đồng minh. Ở Huế tình hình chẳng những đã cực kỳ sôi sục, mà còn rối ren mù mịt. Vì chưa sửa soạn kỹ lưỡng để nắm quyền, khi định mệnh xô ngã Nhật, chánh quyền của ông chú tôi hoàn toàn bỡ ngỡ, không biết phải hành động ra sao. Ngược lại, ông Hồ Chí Minh vào lúc đó đã có chủ trương rõ rệt trong vấn đề tiến lên nắm lấy chính quyền. Chỉ trong vòng vài ngày, cụ Kim đã phải đương đầu với cái mà, theo như sự lấp liếm khéo léo của Việt Minh thì là “một sự đã rồi.”

Khi Nhật đã hoàn toàn đầu hàng, Hà Nội trở nên ồn ào vì biểu tình và hội họp của các đám đông do Việt Minh tổ chức. Mọi người đều đổ về thủ đô từ những vùng lân cận, kéo về để hoan hô độc lập. Trong tình cảnh Nhật chẳng đang rối ren, Pháp đang vắng mặt và chưa có sự hiện diện của quân đồng minh, Hà Nội thực sự là một khoảng trống chính trị. Khâm sai Phan Kế Toại, đại biểu cho chánh quyền Trần Trọng Kim đã nhìn đám đông với đôi mắt ơ hờ rồi nghe theo lời con trai là một người vốn đã theo Việt Minh từ trước tuyên bố từ chức. Lúc này những tiểu tổ của Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng vẫn còn thiếu tổ chức, không đủ sức chống lại những đội tuyên truyền được vũ trang, những Hội Đồng Cách Mạng và hàng trăm cán bộ chính trị mà Việt Minh đưa ra để tranh thủ cảm tình của dân chúng.

Ngày 17 tháng 8, một đám đông tụ tập tại Nhà Hát Lớn Hà Nội để cổ võ chánh quyền Trần Trọng Kim. Nhưng những người tổ chức biểu tình hoàn toàn bất lực khi các đội vũ trang của Việt Minh đứng ra chiếm lấy diễn đàn. Những toán vũ trang đã tung cờ Việt Minh, hô hào đả đảo “chánh phủ bù nhìn” và đồng thời kêu gọi mọi người đứng lên “chống lại các lực lượng Phát-Xít.” Vào ngày 18, Việt Minh mang thêm đảng viên vào thành phố. Khi chẳng còn ai chống đối Việt Minh phát động chiến dịch tuyên truyền tối đa để kêu gọi dân chúng. Các đảng viên Việt Minh cố hướng dẫn, lợi dụng triệt để những cảm tình phát xuất từ nhiệt tâm của toàn dân. Giữa tiếng reo hò khắp các nẻo đường, những người đọc diễn văn tuyên bố chính phủ Trần Trọng Kim là những người nối giáo. Họ kêu gọi liên tục rằng chính Việt Minh mới là đại biểu chân chính của quốc gia đã giành lại được chính quyền từ tay quân Phát-Xít Nhật, chỉ có chánh quyền Việt Minh mới được Hoa Kỳ ủng hộ. Tình hình căng thẳng gần đến độ nổ tung. Vào ngày 19, đám đông tụ họp tại công trường Ba Đình, rồi diễn hành đến chỗ cư ngụ của các công chức chánh phủ gần chỗ Phủ Đại Biểu, nơi làm việc của đại biểu cũ giờ đã từ chức. Chiều đó, Nhật đã hứa không can thiệp và những người lính tự vệ thành đã được lệnh giải tán. Lúc này lại có tin rằng ông Bảo Đại đã nhận được điện tín yêu cầu thoái vị.

Vào ngày 19, cụ Trần Trọng Kim từ chức thủ tướng. Mới đầu, khi nghe tin các biến cố ở Hà Nội, cụ Kim có cảm giác vui buồn lẫn lộn. Cụ buồn vì tình trạng của mình sau cuộc đảo chánh của Việt Minh, nhất là khi cụ đã vui lòng giao lại chính quyền trong một khuôn khổ hợp pháp, thứ tự. Tuy vậy, cụ không muốn làm điều gì hại đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, và ông tin rằng Việt Minh thật sự được Hoa Kỳ ủng hộ. Cụ không hề biết tí gì về những hoạch định áp đặt ý thức hệ cách mạng lớn lao của Việt Minh. Điều cụ không biết cũng là điều mà hầu hết những người Việt Nam diễn hành dưới lá cờ Việt Nam qua đường phố Hà Nội cũng chẳng hề hay biết.

Tuy thế sau khi cụ Kim đã quyết định thì tất cả những cảm giác vui buồn lẫn lộn đều hoàn toàn biến mất. Cụ đã nói với tôi rằng: “Giờ chú hoàn toàn vui mừng như xưa, sẽ có người khác phải gánh trách nhiệm. Thật là nhẹ nhàng vô cùng. Giờ ta lên đường.”

Vài ngày sau ông chú tôi cùng một số Bộ Trưởng khác cùng về một làng đánh cá nhỏ ở Vĩ Dạ để xem xét tình hình. Tôi cũng đi cùng. Lúc này, quyền hạn chánh phủ đã bị hủy bỏ hoàn toàn. Ngoài Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng, chẳng còn thế lực nào khác có thể đương đầu với đảng Việt Minh của ông Hồ Chí Minh.

Ngày 21 tháng 8, tại Hà Nội, từng loạt hội thảo do Việt Minh cầm đầu đưa ra những giải pháp đòi hỏi ông Bảo Đại phải thoái vị. Lời đòi hỏi quan trọng nhất đến từ Tổng Hội Sinh Viên lúc này đang chịu nhiều ảnh hưởng của những phần tử thân Việt Minh. Một phần là vì muốn đặt lợi ích của toàn thể quốc dân lên trên hết, và một phần khác cũng là vì chẳng còn cách nào khác hơn, Bảo Đại đánh điện trả lời rằng ông đang sửa soạn từ chức. Vào ngày 26 tháng 8, khi một phái đoàn Việt Minh đã đến Huế thì Bảo Đại chánh thức từ chức nơi điện vua ngay giữa cố đô. Ông tuyên bố rằng: “Thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ.”

Ba ngày sau chánh phủ lâm thời của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời. Thành phần chánh phủ lâm thời bao gồm nhiều cán bộ nòng cốt của Việt Minh, nhiều Bộ Trưởng có quá khứ Cộng Sản chưa lộ rõ và một số các đảng viên của những đảng khác. Hiển nhiên lúc này các lãnh tụ Việt Minh đang cố lợi dụng cảm xúc của toàn dân trong ngày thống nhất, nhưng những hoạt động của họ ở Vĩ Dạ vẫn khiến tôi cảm thấy khó chịu vô cùng. Tất cả làng xóm lúc bấy giờ đều được Ủy Ban Nhân Dân dẫn dắt. Ủy Ban Nhân Dân đốc thúc hội họp liên miên và đánh trống kêu gọi mọi người giúp đỡ chánh quyền mới. Tôi cảm thấy khó chịu vì giọng kêu gọi có vẻ bắt buộc và những cuộc biểu tình thường có tính cách lợi dụng tình cảm của người trong làng. Vào ngày 2 tháng 9, ông Hồ đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại Hà Nội. Tuy có đến xem dân làng tụ họp, ca hát, tôi chẳng hề có cảm tình nồng nàn đối với chánh phủ lâm thời cùng những Ủy Ban Nhân Dân do chánh phủ lâm thời đề ra. Lúc này tôi bỗng cảm thấy rằng dường như cơ hội ngàn năm đã thực sự vuột mất và cũng ngay trong lúc này tôi đã mơ hồ cảm thấy có điềm gì đen tối đang giăng mắc trên không. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"