Trương Chi (TVT)

Tác giả:

Một ngày khác hẳn mọi ngày. Ngày chàng trông đợi trong năm. Chàng phập phồng náo nức từ khi thức giấc. Đứng ngồi không yên. Không tập trung làm được việc gì cho trọn vẹn. Cũng may, ít khách sửa xe. Chàng mong đợi thời gian qua mau. Chiều đến! Trời mưa tầm tã. Gió giật liên hồi. Cây me vặn cành, âm thanh khô chát. Nghe như tiếng kêu của nỗi đau nhức. Ngoài miền trung đang bão, lũ. Trời tối mau sầm sập. Thỉnh thoảng có chiếc xe con bóng loáng vùn vụt chạy qua, hất tung bọt nước. Chàng gõ cờ lê lên thùng sắt hát. Để làm dịu đi nỗi nhức chờ mong. Tiếng hát của chàng bổng trầm da diết. Một giọng ca trầm lắng. Chất giọng ngọt thanh đã dính vô, không thể dứt ra, như kẹo mạch nha. Xuống trầm là là mặt đất, mơn man cỏ non. Lên cao thăm thẳm, lay động cả trăng sao. Giọng ca của chàng lan tỏa ấm áp, dịu dàng. Như mây, như khói, bồng bềnh lan xa… Người ta thường nói, đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai. Ai đó đã nói tới cái quyền lực của âm thanh. Biết bao phụ nữ bị chi phối bởi cái thứ quyền lực ngọt ngào đến mê man, mê muội ấy. Cũng bởi phụ nữ vốn là một hệ thống sinh học ở thể mềm mại, cấu trúc theo đường hình sin, năng lực bắt sóng âm thanh rất nhạy. Thêm nữa, phụ nữ luôn thích nghe những gì mình thích, sự phân biệt thật giả chỉ ở hàng sau, khi nhớ, khi quên. Thế nên, giọng ca của chàng có thể coi như một quyền lực. Biết bao quý bà, quý cô đã đến với chàng nức nở, đắm đuối theo lời hát của chàng. Nhưng quyền lực của âm thanh hay bất kể cái gì thuộc về quyền lực cá nhân cũng chỉ có giới hạn.

Sau phút mê man, các quý bà quý cô phải nhìn cho rõ mặt chàng và khi đã thấy rồi, họ vội vã rút đi, để lại ít tiền hoặc vật kỷ niệm. Người ta không thể gần gũi, yêu thương chàng được. Do ảnh hưởng chất độc da cam trong chiến tranh, chàng ta là một người dị dạng, tật nguyền. Cơ thể bị gẫy khúc giữa chừng với hai cái chân không lành lặn. Chân trái bị khèo, chân phải bị thọt. Đi như ếch bơi. Hai chân vung vẩy và chòi đạp. Khuôn mặt méo mó với một cái bướu đen xì ở ngay trên trán và rất nhiều mụn to nhỏ khác nhau sần sùi như da cóc. Ngay cả cánh đàn ông, con trai, nghe chàng hát cũng phải quay lưng lại…

Chàng không có tên gọi chính thức. Trong một đêm say xỉn, ông "Tư đàn cò" lượm chàng về từ nơi cửa chùa. Một vật thể dị hình, hao hao giống người. Nói được, cười được. Đi không được và không biết khóc. Người ta đã bỏ rơi chàng, hy vọng nhà chùa tiếp nhận. Trong ánh đèn đường đục lờ, ông Tư nhận thấy một đôi mắt tuyệt đẹp, đôi mắt đen huyền thăm thẳm, một biểu tượng của sầu thương và cô đơn truyền kiếp. Đôi mắt của một đứa trẻ chừng ba tuổi mà thôi. Ông Tư đem chàng về nuôi, ra sức tập luyện cho chàng. Chàng ta đi được và đến khi râu mép lên xanh, giọng vỡ ra thì cũng là lúc bộc lộ giọng ca làm mê muội lòng người.

Ngoài giọng hát, chàng còn có khả năng đàn phụ họa bằng bất kỳ thứ gì phát ra âm thanh. Cái ly, cái muỗng, soong nồi, thùng sắt tây, mặt bàn, chân ghế… qua tay chàng cũng đều phát ra những âm thanh quyến rũ. Hồi nhỏ người ta gọi chàng là thằng thọt, đến khi nổi danh gọi là Trương Chi. Không ai nghe thấy Trương Chi ngày xưa hát hay thế nào, không ai biết Trương Chi ngày xưa xấu xí ra sao. Chỉ biết ngày xưa có chàng Trương Chi "người thì thậm xấu, hát thì thậm hay". Chắc xấu cũng chỉ đến như thằng thọt. Hát hay cũng chỉ tới mức như chàng thọt là cùng…

Từ đó, chàng ta mang tên Trương Chi… Dường như chàng cũng phải tin mình là chàng Trương Chi tái thế. Dĩ nhiên, không phải làm công việc chèo đò đưa khách qua sông. Nơi đây không có sông, rạch, chỉ có vài ba cái rãnh nước của người trồng hoa. Nhiều năm trời, từ khi chàng biết có đất ấy, mọi người thường gọi là xóm Cây Me. Chỉ cách sân bay Tân Sơn Nhất vài trăm mét, vào những đêm trăng sáng, nơi này tràn ngập ánh trăng, vang rền tiếng dế. Còn khi không có trăng, khỏi cần mô tả sự hoang sơ và nghèo khó như thế nào. Nhà ngói ít hơn nhà lá. Vào đêm mưa, tiếng ếch nhái rầm rĩ vang động cả một góc trời… Người ta bảo đất này là đất mai rùa, phú quý trôi đi, nghèo hèn đọng lại. Thế nên người có chí làm quan, làm giàu, hễ có chút vốn liếng là vội vã rời xa, nhường lại cho dân tứ chiếng giang hồ. Vả lại, người giang hồ khi còn "oanh oanh liệt liệt" cũng chẳng đến đây làm gì. Bởi chồn chân mỏi gối, bởi tóc đã pha sương nhuộm muối, bởi tâm tư mệt mỏi sầu não mới rút về đây. Gọi là ở ẩn, vui thú tản nhàn. Đất này nhiều cát lắm sỏi, cây cối cằn cỗi. Chỉ có loại hoa cúc vạn thọ là sống tốt ở đây. Thứ hoa thờ cúng với sắc vàng óng chuốt của sự giàu sang phú quý hà cớ chi lại chọn đất này.

Ông Tư đàn cò bảo: "Đất này linh lắm!".

Chàng cãi lại:

– Linh cái nỗi gì! Cỏ mọc không nổi, giun dế kêu than suốt đêm. Thần linh không có, ma mãnh cũng không, chỉ thấy người ta sống dúm dó chen chúc.

Ông Tư là một nghệ sĩ đa năng, đa tài nhưng thiếu "hỏa linh" ở cung đình quan lộc nên mới ra cái số "nghiệp không thành, danh không toại", hết thảy đều gãy gánh giữa đường, cái nửa chừng xuân cứ dở dở ương ương, lẳng lặng trôi theo năm tháng. Ông yêu một đào hát dồn hết sức để đưa người ấy lên thành sao này, sao nọ. Người ấy cảm ơn ông nồng nhiệt, tặng ông một chiếc áo sơ mi rộng thùng thình in hình chim cò sặc sỡ rồi leo lên xe hoa, chạy một lèo sang tận xứ Hoa Kỳ sinh sống với một người Việt định cư ở đó. Ông gẩy đàn ghi ta phím lõm, ráng sức tu chỉnh âm sắc để ra câu hát "Tình yêu là hy sinh… Có hy sinh mới là tình yêu". Xem ra, việc này còn khó hơn trúng số độc đắc. Được số này, sai số nọ. Năm này sang năm khác, ông mua đến nghìn vé số vẫn không trúng lấy cái giải an ủi. Năm này sang năm khác, đã thay hàng chục lần dây đàn mà bài ca "Tình yêu là hy sinh…" vẫn lủng củng lô xô, như gà vịt cãi nhau.

Chàng gõ chén, hát bâng quơ: Người ta sang sông. Đau đứt từng khúc ruột, ô hô, lại hát mây tím, mây hồng… Ông Tư trừng mắt nạt nộ:

– Mi thì biết cái gì! Ông không dùng đàn ghi ta để soạn nhạc cho bài hát ấy nữa.

Ông dùng đàn cò. Chàng bảo: "Tân cổ giao duyên hết thời rồi… ngủ mê lâu quá! Tỉnh dậy mau thôi"…

Chàng vừa nói xong, làn sóng đô thị hóa ập đến xóm này. Giống như đổi kênh truyền hình. Vừa cúi xuống, nhìn lên đã thấy dọc ngang phố xá. Nhà lầu mọc lên còn nhanh hơn trẻ con mọc ban đỏ khi bị sởi. Trẻ con mọc ban, kiêng cữ nhiều thứ. Dân nhà lầu cũng vậy. Họ cúng vái nhiều đến nỗi giá ông Địa, thần Tài, nhang đèn, và các đồ hàng mã ở khu chợ tăng lên gấp đôi. Nhà nào cũng có ông Địa, thần Tài, bộ ba Phúc – Lộc – Thọ. Có người còn tìm chỗ linh để thờ. Nghe nói, cây me là một cổ thụ, từng có miếu thờ một gã ăn xin bị sét đánh chết. Miếu chỉ có gạch đá xếp lại, không có vôi vữa gắn kết bị gió lốc đi qua hất tung mọi thứ. Cái bát nhang bị trẻ chăn trâu lấy đi làm đồ chơi chọi dế.

Người bị sét đánh hẳn là thiêng. Không có miếu, bát nhang cũng chẳng sao. Lòng thành tại tâm. Người ta đến gốc me thắp nhang cúng vái mong được phát lộc, phát tài, mua rẻ bán đắt…

Địa điểm cây me trở nên nhộn nhịp khác thường. Ngoài người đến cúng vái còn tập trung rất đông các loại cò đất, cò nhà và các thầy địa lý chuyên xem phong thủy. Xe gắn máy, xe ô-tô du lịch nổ máy suốt ngày, chạy tới chạy lui. Rồi xóm Cây Me đã được gắn biển sắt sơn xanh chữ trắng mang tên một đường phố. Lớp dân cũ đã bán đất dời đi nơi khác sinh sống. Dân mới nườm nượp đổ về. Chỉ duy nhất có ông Tư nhất quyết không chịu bán đất, quyết trụ lại. Cảnh quan hè phố bỗng nhiên bị một vết nứt rộng 10 mét, sâu 30 mét. Sau gốc me, một căn nhà lợp lá và vườn vạn thọ. Thoạt trông dị dạng dị hình, nhưng nhìn qua, ngó lại thấy có chút duyên dáng. Như một chiếc răng khểnh vậy.

Ai cũng bảo ông và chàng là điên khùng. Ba bốn chục cây vàng là một tài sản lớn, một vốn có thể làm giàu. Đã điên khùng sao có thể thấu tình, đạt lý được. Chàng hát: "Đã bao thu rồi không về miền trung quê ơi…". Tiếng hát đầm ấm ngọt ngào. Những người biết chàng là Trương Chi tái thế đã đi hết. Và cũng chỉ có những người ấy, những người không có ti vi để xem, không biết các ca sĩ nổi danh thế giới là ai mới thán phục say mê giọng ca "thần sầu quỷ khóc" của chàng.

Người phố mới bây giờ có nhiều ti vi, lắm máy CD, có đủ tiền mua cặp vé một triệu đồng xem anh chàng "Đông cun" nào đó ở tận xứ Hàn Quốc xa xôi đến biểu diễn ở sân thể thao Phan Đình Phùng. Người phố mới không thích ăn đồ mộc, cái gì cũng phải có gia vị. Sao có thể gọi là âm nhạc được khi không có dàn nhạc đệm, không lắc mông vặn mình, không mắt xanh môi tím, không lim dim trợn trừng… Thế nên, tiếng hát của chàng dầu du dương, thánh thót là vậy, cũng giống như những giọt nước mưa tràn lan trên vỉa hè rồi nhập vào dòng nước đục ngầu cùng các loại rác rưởi cuồn cuộn trôi vào các miệng ống cống. Ông Tư thò đầu ra khỏi cửa gọi: "Thu dọn đồ lại, nghỉ thôi con". Chàng ta gọi ông Tư là ba, cư xử với ông như bạn. Ông Tư cũng vậy, gọi là con nhưng cư xử với chàng như bạn thân. Chàng nói: "Có nên ở đây mãi không?". Ông Tư dóng dả: "ở mãi" Chàng lại hỏi: "Có buồn chán không?". Ông tư khẳng định: "Buồn tại tâm, chán tại trí. Tâm không buồn, trí không nản ở đâu cũng vậy". Chàng nói bâng quơ: "Gốc me vẫn là gốc me, đâu phải là người"..

Là ý nói chuyện ông Tư không thể xa gốc me. Nơi đó người tình trong mộng của ông đã đến gặp ông lúc còn lớ ngớ nói ngọng trệu trạo, và cũng nơi đó cô nàng đã tới chia tay ông.

Ông Tư bảo: "Trông cây thấy người, vậy nên cũng là người. Biết đâu người ấy sẽ quay về"…

Con người vốn đã đáng thương. Người yêu đơn phương còn đáng thương gấp bội. Hy vọng ấy là gì trong cõi thế gian đang tự động hóa cả chuyện đút cơm vào miệng? Có thể gọi là khoa học viễn tưởng được chăng! Rượu lạt thếch. Uống không thấy nóng, lại thấy lạnh… Ông Tư nói thế! Ông bỏ nhà đi tới chùa đàm đạo với sư. Đêm nào cũng vậy. Ông không ngủ ở nhà. Ông nói, ngủ ở chùa thấy tâm trí bình ổn. Cuộc sống của ông và chàng ta trông cậy vào vườn bông vạn thọ và cái sạp bán hàng thờ cúng. Không trông mong được gì nhiều ở tiền sửa xe của chàng. Từ ngày đô thị hóa tràn tới đây, rất ít người đi xe đạp, xe Hon đa toàn loại xịn có hư đâu mà sửa. Cũng không có người đến nghe chàng hát, không có tiền "boa" và hàng tặng phẩm. Ông Tư đi rồi, chàng kéo ghế ra hiên nhà, ôm đàn hát: "Tình yêu là hy sinh… Hy sinh cho tình yêu!". Những lời hát của ông Tư sáng tác gần mười năm nay, dù giọng hát của chàng có mềm mại uyển chuyển tới mức "trói voi bỏ rọ" vẫn không thể hát lên được.

Chàng quyết tâm cùng cha nuôi gò gẫm hát cho được những câu hát trên… Ông Tư bảo: "Cái gì đã là chân lý đều trở thành thi ca, đều có thể hát được". Chàng cũng tin điều đó.

– Anh hát bài "Giọt mưa thu" đi anh!

Một giọng nữ dịu dàng tha thiết và xa xôi đã đến bên chàng. Vậy là nàng đã tới. Người ấy đến hẹn lại về. Trời không mưa nữa. Gió không lạnh nữa. Thế giới rực rỡ sắc hồng, thênh thênh cao rộng. Chàng không nhìn lại. Từ lúc biết làm người, chàng không có phản ứng nhìn người. Chàng luôn nhìn xuống hoặc ngó tới chỗ nào đó không có bóng dáng con người. Vậy là đúng hẹn. Người ấy đã tới. Mỗi năm, chỉ có một lần, vào đúng ngày, khi trời đổ tối, người đó lại đến và yêu cầu chàng hát bài "Giọt mưa thu". Mười năm trước, người đó là một gái làng chơi, sống xả láng, trẻ không tha, già không thương. Người đó ở trọ hàng xóm kế bên. Cũng là người đàn bà duy nhất dám ôm chàng, hôn chàng. Một cuộc ăn nằm đẫm nước mắt trong đêm mưa, sau bài "Giọt mưa thu"!. Và cũng chỉ có lần ấy mà thôi. Sau đó, người đó biến mất khỏi chốn giang hồ. Chị ta đã lập nghiệp ở đâu đó bên quận 4, có chồng, có con, lo làm ăn lương thiện.

"Buồn tủi cô đơn là điều đáng sợ nhất trên cõi đời này". Người ấy nói vậy. Lại nói thêm: "Em thương anh nhiều lắm, cho dù không thể sống được bên anh".

"Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi…". Chàng hát! Chàng như trôi dạt, bồng bềnh trong cõi nhân gian. Chàng như người mộng du, hết bài hát này sang bài khác. Chàng hát lên nỗi niềm của chính mình. "Tình yêu là hy sinh. Hạnh phúc thay, khi yêu. Hạnh phúc thay khi hy sinh cho tình yêu".

– Bài hát ấy hay lắm, anh hát lại đi.

– Bài nào?

– Tình yêu là hy sinh…

– Tôi đâu có hát…

– Có! Anh vừa hát xong đấy thôi…

Chàng gục đầu. Hai vai chàng rung lên. Có lẽ chàng đã hoàn tất, làm ổn thỏa các nốt nhạc cho bài hát "Tình yêu là hy sinh" của ông Tư. Chỉ là một cơn đột biến. Nó đã qua rồi! Một giây phút xuất thần. Như sao băng vụt sáng trên trời. Lại rơi vào tĩnh mịch vô biên. Chàng không thể hát lại. Những gì trời cho thì trời lại lấy đi. Tạo hóa thật trớ trêu, thật oan nghiệt. Con người sinh ra đâu có lỗi lầm. Là sản phẩm hoàn hảo nhất của tạo hóa, cớ sao lại đùa cợt như người lớn trêu chọc con nít: cho cái này, lấy cái khác… Những câu hát vẫn chỉ là những câu không thể hát lại được nữa. Người ấy không thể hôn chàng được nữa. Người ấy chỉ có thể đến với chàng một lần, trong lúc đột biến tâm tư, xuất thần cảm xúc. Chỉ một lần thôi! Sau này, mỗi năm người ấy chỉ đến để cảm nhận cái hơi thở, giọng nói và sắc mầu quen thuộc, thân thiết. Trời chỉ cho có thế. Nàng chỉ có thể yêu được đến thế… Không thể hơn. Xót lắm thay, buồn lắm thay.

– Anh sao vậy?

– Không sao!

– Em về…

Chàng cảm nhận rất rõ bước chân người ấy đang đi, lưu luyến dùng dằng. Chỉ còn có người ấy biết chàng là Trương Chi. Nếu chẳng may người ấy đi xa, xa lắc, còn có ai biết đến Trương Chi. Chàng khóc! Lần đầu tiên trong đời chàng biết khóc là gì.

 

Thảo luận cho bài: "Trương Chi (TVT)"