Ung Thư Vú

Tác giả:

Ung Thư Vú
* nguồn sinh bệnh * cách ngăn ngừa
* phương pháp truy tìm bệnh
● Dr. Tôn-Thất Hứa
Vì vận nước nổi trôi, chúng ta đã nghìn dặm ra đi, trời không là trời xưa, đất không còn là đất cũ, gió nắng hương nồng không còn hơi hướm quen thuộc. Gia tài của chúng ta giờ đây chỉ còn là thân xác sống nơi cõi lạc loài; một hình hài luôn luôn va chạm trong  cuộc sống mới bầm dập cần phải bảo trọng. Theo sự phân hóa của tạo hóa, thể trạng con người tha hương cũng phải thích nghi với môi trường sống mới. Trước đây sống trong giai đoạn chiến tranh, các bà mẹ Việt Nam là những thiếu phụ Nam Xương gánh gạo nuôi chồng dạy dỗ đàn con. Nay trong hoàn cảnh mới, đã đến lúc các bà cần suy nghĩ để lo lắng cho thân mình.
Thống kê của của Bộ Y Tế tiểu bang California, ủy ban đăng ký của Hội Ung thư Việt Mỹ kể từ 1988 – 2002, cho biết có những trường hợp ung thư mới phát hiện ở người đàn bà trong cộng đồng người Việt tại California được chia ra:
– Ung thư vú: 534
– Ung thư ruột: 252
– Ung thư phổi: 244
– Ung thư cổ tử cung: 140
Thống kê của liên bang, các tiểu bang và ngay cả Sở Y tế cấp tỉnh của CHLB Đức không có được số liệu dành cho phụ nữ Việt Nam đang cư trú. Người đàn bà Việt Nam phần đông rất ít chịu đi khám bệnh, đi chụp vú hay thử PAP (tìm bệnh ung thư cổ tử cung) vì mắc cở, sợ bị đau, sợ đi khám sẽ “lòi” ra bệnh; thậm chí có người suy nghĩ không bệnh gì tại sao lại đi tìm bệnh. Quan niệm chung vẩn là: bói ra ma, quét nhà ra rát !!! Và họ đã quên một định luật bất di bất dịch của sự sinh tồn: “phòng bệnh hơn chữa bệnh” – Nếu cứ 2 năm chúng ta phải mang xe hơi đi vào TÜV một lần mà không nề hà gì, rứa mà sức khoẻ bản thân chính mình thì các bà lại quên! Ngay trẻ con của thế hệ thứ 2 người Việt sinh sống trên nước Đức cũng “được” cha mẹ quên mang đi chủng ngừa định kỳ.
Dựa theo nền tản ngành ung thư học: một sự phát hiện sớm thì sự chữa trị càng dễ, mang lại kết quả tốt đẹp… có thể dứt nọc luôn.
● Thống kê của  Học Viện Robert-Koch / Robert-Koch-Institut (RKI) tại Bá Linh công bố:
Hàng năm có đến 55.000 trường hợp ung thư vú mới được phát hiện trên CHLB Đức, 80% trường hợp được phát hiện sau 50 tuổi. Một điểm đáng ghi nhận là:
– Số lượng nhóm phụ nữ trẻ có mầm gia tăng trong những năm qua.
– Không phải ung thư vú chỉ dành riêng cho giới phụ nữ; năm 2002 đã ghi nhận có 230 người đàn ông đã chết vì ung thư vú, với một số lượng rất thấp.
– Tuổi sống của người dân Đức tăng lên thấy rõ, thống kê mới nhất “Das deutsche Ärzteblatt”, số 34 – 35 / 2006 để sửa lại cho lần tổng kết sau cùng 1998: tuổi sống trung bình của nữ giới là 81,6 tuổi và nam giới 76 tuổi. Tuổi sống càng cao thì khả năng nhuốm bệnh ung thư nói chung của con người càng tăng. Muốn  phần cuối cuộc đời được an nhàn khỏe mạnh thì phải ngăn ngừa bệnh hoạn, các bà cần phải tìm cho ra bệnh thật sớm để dứt nọc sự phát triển cơn bệnh. Trong năm 2005 có 830.227 mạng người đã chết, phân nửa số người chết là do tai biến hệ thống tuần hoàn và tim mạch.
● Thống kê của Anh Quốc cho thấy cứ 9 người đàn bà thì có 1 bà bị ung thư vú; 4 trong 5 trường hợp xuất hiện sau 50 tuổi và hàng năm có đến 300 người… đàn ông mắc phải bệnh này.
Cấu tạo và sự thành hình ung thư vú: Vú được tạo thành bởi hàng triệu tế bào luôn luôn sinh sôi nảy nở để thay thế nhóm tế bào già bị phân hóa. Bướu ung thư bắt đầu khi có một tế bào sinh sản không đúng theo kế hoạch sinh lý, nhóm tế bào bệnh hoạn này sẽ kết hợp lại thành một bướu gọi là bướu ung thư. Một khi mà bướu ung thư đã bắt đầu và khi một số tế bào trong bướu này tự tách rời ra khỏi bướu mẹ đi tìm một cơ quan khác của cơ thể để phát triển thì bướu ung thư đã di căn (metastase). Đây là một dấu hiệu xấu.

Vú bình thường của một người đàn bà trưởng thành được tạo nên do mỡ và các tuyến vú. Nhũ hoa được ghép lại do 10 đến 15 thùy vú. Thùy vú do các nang vú dựng lên; các nang được nối liền với nhau bằng những ống dẫn sữa. Những ống dẫn này sẽ nối lại với nhau để đổ vào nuốm vú giống như một chùm nho. Lớp tế bào lót bên trong của ống dẫn và nang vú thường là nơi phát sinh ra ung thư. Nang và ống dẫn sữa nằm chen lấn trong đống mỡ và tạo ra hình dáng, sự căng phồng và độ cứng hay mềm của đôi nhũ hoa nơi sinh ra sữa và chuyền sữa mẹ đến để nuôi con. Thể tích (lớn hay nhỏ) của vú được thay đổi tùy theo lượng mỡ kết hợp. Tuy không có bắp thịt riêng, nhưng lưng của cặp vú lại bám trên lớp cơ khá lớn của vùng ngực để duy trì vị trí của nó.
Các mạch máu đan chằng chịt mang thức ăn và kích thích tố (hormone) nuôi dưỡng bộ vú; trong thời kỳ có kinh, có thai hay khích động tình dục thì các mạch máu trương lên để nhận thêm lượng máu làm tăng độ cứng của vú. Thể dạng và độ lớn của nhũ hoa thay đổi theo chu trình kinh, biến đổi theo nồng độ của kích thích tố nữ : trước hết là “Oestrogen” kế tiếp là “Gestagen” giữ lượng nước trong các mô của vú tăng thêm lượng máu làm cho cặp vú căng lên kết quả là các tế bào tuyến vú cũng nảy sinh nhiều hơn. Đây là hiện tượng chuẩn bị cho một thai nghén nếu có; trường hợp không có sự thụ thai thì vú sẽ trở lại trạng thái bình thường. Sự thay đổi cấu trúc vú hàng tháng có thể tạo nên những hạt cứng như hạt cát mịn nhỏ li ti, những hạt cứng này có thể tích lớn nhất trước khi có kinh và thường biến mất vào thời kỳ mãn kinh. Trường hợp người đàn bà tiếp tục dùng thuốc có kích thích tố nữ hay cơ thể vẫn tự sản xuất thì các hạt mịn đó vẫn tồn tại. Y học hiện tại có thể phân biệt 100% những phần vú biến dạng ung thư với những thay đổi sinh lý của bộ vú.
Khái quát về căn bệnh ung thư (*)
Mỗi người trong chúng ta đều có mang trong mình những mầm mống thật bé nhỏ của một loại ung thư nào đó, tuy nhiên nhờ sự đề kháng tốt của cơ thể nên chứng ung thư chưa có cơ hội phát sinh ra thành khối u của con bệnh nan y mà thôi. Những mầm bé nhỏ xíu này (microtumeurs) là những tế bào trong giai đoạn “tiền ung thư” được nhìn thấy nhờ xét nghiệm của khoa tổ chức bệnh lý học (histopathologie) qua những bệnh nhân đã chết bởi những nguyên nhân khác ngoài ung thư ra. Các bộ phận cơ thể có mang dấu hiệu tiền ung thư nhưng chưa bộc phát thành bệnh thường được thấy:

  1. vú chiếm 98%,
  2. tuyến giáp trạng 40%,
  3. tiền liệt tuyến 30%.

đưa đến nhận xét sau: số người mắc bệnh ung thư thấp hơn tỳ số người có mang sằn trong cơ thể tế bào tiền ung thư nhờ những yếu tố sinh sống hằng ngày.

Tại sao có hiện tượng nầy?
Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến chứng ung thư chẳng hạn như hóa chất độc, khói thuốc lá, tia phóng xạ, tia tử ngoại mặt trời, các thức ăn, các gia vị… đây chỉ là một trong hằng hà sa số nguyên nhân từ bên ngoài – “yếu tố ngoại”. Chúng ta còn phải kể đến yếu tố bên trong cơ thể… – “yếu tố nội” -, mỗi ngày có hàng tỷ tế bào được phân chia để tạo thành nhóm tế bào mới để thay thể cho nhóm tế bào chết. Trong chu trình phân chia phức tạp của tế bào nếu có một sự lệch lạc nào đó, ví dụ từ một nhiễm sắc thể, không được hoàn chỉnh thì có thể sẽ có một số tế bào sinh ra ngoài phát triển trong chu trình sinh lý sinh sản hổn độn thành những tế bào tiền ung thư (précancéreuses), cuối cùng chúng tìm cách định vị tại một chốn nào trong cơ thể. Để tạo thành một khối u các tế báo tiền ung thư phải cần nuôi dưỡng bởi một hệ thống mạch máu li ti tân sinh (angiogénèse). Thời gian tiềm ẩn lâu dài trước khi các tế bào tiền ung thư ban đầu có thể sẽ trở thành một khối u ung thư. Đây là giai đoạn vô cùng thuận lợi để các phương pháp trị liệu có thể ngăn chận và phá vỡ sự phát triển của hệ thống mạch máu mới sinh li ti để nuôi khối u. Khối u có thể loại hiền (bénin) hoặc loại dữ (malin). Loại hiền thì chỉ đóng đô tại một chỗ, còn loại dữ rất nguy hiểm vì nó phát triển rất nhanh và còn đi xa hơn đến những cơ quan khác nữa, đó là sự di căn (métastase). Thay đổi nếp sống kiểu “xôi thịt” nhờ dinh dưỡng đạm bạc, nuôi dưỡng cơ thể bằng rau quả tươi là điều hy vọng ngăn chận sự xuất hiện chứng ung thư. Chính một số các chất sinh học thực vật (phytochimiques) chứa trong rau quả sẽ tác động như những vũ khí bén nhọn để ngăn chận và phá vỡ hệ thống mạch máu nuổi dưỡng chứng ung thư khi chúng đang còn trong giai đoạn mới phát sinh.
Được bác sĩ báo tin là định ra bệnh ung thư vú, phần đông các bệnh nhân đã tự hỏi: “Trời ơi đất hỡi… tại răng tôi vướng phải cái chứng nan y này !!!. Chèn đét ơi… tôi đã làm gì không phải với ông bà cha mẹ!!!”. Rồi than thân trách phận khóc hờn…, rồi tủi hận,…
Thật ra, đây không có gì là lỗi lầm hay là số kiếp của con người… Chính ngay y học hiện tại vẫn chưa tìm ra được câu trả lời 100%, … y học chỉ nói được: một khi tế bào sinh sản không theo chu trình sinh lý bình thường mà tự phân chia ra một cách vô trật tự… Khi sự phát triển của tế bào không kiểm soát được thì hàng triệu hàng tỷ tế bào sẽ được sinh ra trong cảnh hổn độn và cấu kết lại thành một khối bướu ung thư.
Những yếu tố có ảnh hưởng đến phát sinh ra bệnh:
● Tuổi là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất:
– Với lớp tuổi 30: 1 / 1.900 người
– Với lớp tuổi 40: 1 / 200
– Với lớp tuổi 50: 1 / 50
– Với lớp tuổi 60: 1 / 23
– Với lớp tuổi 70: 1 / 15
– Trên 70 tuổi   : 1 / 9
● Tỷ lệ mắc bệnh giảm xuống:
– Khi sinh nở nhiều con
– Làm mẹ lúc còn trẻ
– Thời gian cho con bú sữa càng lâu càng tốt
● Tỷ lệ nhuốm bệnh tăng lên khi:
– Kinh nguyệt: bắt đầu có kinh kỳ sớm và tuổi mãn kinh trễ.
– Thuốc ngừa thai: dùng thuốc ngừa thai có khả năng tăng nhẹ sự phát sinh ra bệnh, cơ thể sẽ bình thường trở lại sau khi ngừng thuốc.
– Chứng phì mập: phải duy trì trọng lượng, cân nhắc chế độ ăn uống và tập thể dục. Lượng mỡ tăng lên phần lớn nằm ở vùng bụng đưa đến rối loạn biến dưỡng của cơ thể, làm nồng độ Insuline trong máu tăng lên, do đó lượng Oestrogene cũng tăng theo, rất nguy hiểm cho người đàn bà ở tuổi bế kinh.
– Rượu chè: mỗi ngày “nhậu” 0,3 lít rượu vang, hay 0,6 lít bia = 25 gram rượu thì khả năng vướng bệnh những 31%; lượng rượu tăng lên 100 gr thì tỷ số vướng bệnh lên đến 270%. Các chuyên gia quả quyết là 4% tổng số ung thư vú giảm xuống khi các bà không uống rượu; nguy hại hơn khi người đàn bà nghiện cả 2 thứ: rượu và thuốc lá.
– Bệnh lý gia đình: có mẹ hay chị em ruột thịt đã bị ung thư vú, một khi mẹ hay chị em ruột bị ung thư dưới 50 tuổi thì khả năng vướng bệnh khá cao.
– Một khi đã bị ung thư vú thì có đà tái phát.
– Thuốc trị bệnh có chứa kích thích tố – hormone: còn trong thời thời kỳ nghiên cứu.
Cách định bệnh
Một khái niệm tổng quát: trước khi đến phòng mạch bác sĩ gia đình hay lấy hẹn với người thầy thuốc chuyên khoa, những nghi vấn sau đây phải được trả lời rõ ràng:
– Bướu đã được nhận diện hay đang còn trong giai đoạn truy tìm.
– Bướu tìm thấy thuộc loại hiền hay dữ
– Bướu đang nằm trong phần nào của cơ thể
– Tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân
– Bướu mới phát hiện đang còn ổn định tại chỗ hay là đã di căn (metastase)
– Với lối chữa bệnh thích hợp nào sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh.
Một sự chữa trị sẽ mang đến kết quả tốt đẹp khi sự chẩn đoán bệnh chính xác.
Khám tổng quát cơ thể người bệnh: một cuộc đàm thoại với người thầy thuốc, người đến khám nên trình bày rõ ràng:
– nhịp độ cơn đau,
– nơi bị nhức nhối,
– những bệnh đã có từ trước và cơn bệnh hiện tại để giúp cho các bác sĩ chữa trị chận đứng được những biến chứng có thể xảy ra.
Muốn có một sự điều trị chu đáo người thầy thuốc cần phải nắm vững tình hình tổng quát chính xác của thân chủ. Đây là vấn đề then chốt mà cũng là nhược điểm của bệnh nhân người ngoại quốc nói chung khi trình bày tất cả nỗi khó khăn của bệnh hoạn với một người thầy thuốc không cùng ngôn ngữ và chính ngay người thầy thuốc cũng không có nhiều thì giờ để tìm hiểu sự trăn trở và lắng nghe nỗi khổ đau của người bệnh. Có những chi tiết nhỏ nhặt mà người bệnh cho là không cần thiết, nhưng chính nó lại là những phát hiện bổ ích cho người thầy thuốc.
Thử máu: để xác định lần nữa tình trạng tổng quát của người bệnh và hoạt động sinh lý của một vài cơ quan: ví dụ gan, thận.
Tất cả những dấu hiệu thâu lượm được sẽ giúp cho người thầy thuốc sửa soạn đoạn đường kế tiếp, ví dụ phương pháp gây mê… khi cần đến.
Tìm ra bệnh sớm khả năng lành bệnh rất cao: bướu đang giai đoạn chớm nở thì có đến 98% bệnh nhân sống trên 5 năm sau khi phẫu thuật.
Sợ phải cảnh “bói ra ma, quét nhà ra rát” các bà, các cô phải dứt khoát loại bỏ tư tưởng trên và luôn nhớ rằng phòng bệnh hơn là chữa bệnh. Sinh sống trên nước Đức cũng nên tận dụng tối đa phát triển y học, các sở bảo hiểm sức khoẻ đã thống nhất hoàn trả 100%, tổn phí lên tới 3,8 triệu Euro cho chương ngăn chận con bệnh tác quái:
– Khám ở phòng mạch: lứa tuổi 30 khám một lần trong 1 năm.
– Chụp hình: từ 59 – 69 tuổi được chụp hình vú cắt lát (CT – computeur tomographie) cứ 2 năm 1 lần. Với lối chụp hùnh vú có thể đến 90 % trường hợp tìm ra ung thư trong giai đoạn còn sớm. Chụp hình quang tuyến, cắt lớp vú giúp cho sự định bệnh khá chính xác.
– Siêu âm – Sonographie – : một số lượng nhỏ, bướu không nhìn thấy được qua phương pháp chụp hình ví dụ tuyến vú che lấp khối u, siêu âm cũng đóng vai trò quan trọng để xác định bệnh. Trong khi siêu âm vú, người bác sĩ có thể tìm xem những cơ quan phần bụng trên để xem bệnh đã di căn chưa, ví dụ lá gan. Siêu âm có nhiều ưu điểm:
* không có biến chứng nguy hại để lại sau nhiều lần siêu âm,
*  không đau đớn
* không bị nhiễm chất phóng xạ như chụp hình quang tuyến.
– Chụp hình phổi: cần thiết để chuẩn bị mổ, lựa chọn cách gây mê, quan trọng nhất là để xác định  100% có sự di căn đến hai lá phổi chưa.
– Sinh thiết – Biopsie – : ít nguy hiểm, bằng kim chích dò vào phần vú bị nghi ngờ sau đó mang đi  thử nghiệm mô học. Đây là một cách tìm bệnh chính xác nhất để xác định bướu hiền hay dữ trước khi bàn đến cách chữa trị bằng thuốc men hay mổ xẻ.
– Yếu tố sinh bệnh – Gentest – : Trung tâm nghiên cứu ung thư vú – Brustzentrums der C-harité / Universitätsklinikum Berlin –  có khả năng tìm kiếm yếu tố sinh bệnh gia truyền BRCA1 và BRCA2 –  Breast Cancer – (mẹ, chị em hay đã có tiền căn ung thư vú). Dấu hiệu phát hiện rất sớm trong máu để truy nguyên ra bệnh.
Người Việt chúng ta thường nói: thương ai không bằng thương thân, các cô và các bà hàng tháng nên tự khám lấy vú của mình theo cách hướng dẫn sau đây:
– Khi còn kinh nguyệt: tự khám vú vào một thời điểm nhất định, tốt nhất là ngay sau khi mãn kinh. Trong giai đoạn mãn kinh nên chọn một ngày nhất định trong tháng, để khỏi quên lấy ngày sinh nhật chẳng hạn…
– Đứng trước tấm gương: kiếm soát độ lớn và hình dạng của vú, chú trọng khi có sự thay đổi lớp da: đỏ hửng hay u lên; nuốm vú có lồi lõm bất thường không, có sần sùi không, có nước dịch chảy ra không…
– Hai tay đặt sau cổ ưỡn người ra: so sánh 2 vú phải trái, trường hợp có bộ vú lớn rất khó để nhìn được phần dưới bị che lấp của vú.
– Dùng tay để tự khám lấy các phần vú đối chiếu nhau: có đau đớn không, có nhức nhối không, có sờ thấy được cục u cồm cộm không… (mẹo vặt: lấy đầu lưỡi của mình đá vào bên trong của má, lấy tay sờ thấy cồm cộm ngoài má). Sau cùng khám 2 nách để kiểm soát những cục u hạch nho nhỏ…: hình dáng và kích thước.
– Một khi các cô các bà không chắc chắn vào khám nghiệm hay đã tìm thấy một cái gì lạ ngoài sự hiểu biết… thì nên đến phòng mạch của các bác sĩ chuyên khoa. Nơi đây các bà, các cô sẽ được chỉ dẫn hay cung cấp tài liệu cần thiết. Một vài phòng mạch có cả mô hình vú giả để các cô các bà tự nắn và học hỏi dưới sự hướng dẫn của các nhà chuyên môn.
Ung thư cổ tử cung
Để có một sự so sánh khá chính xác giữa người bản xứ và nhóm người di dân, tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia cho thấy: tại Hoa Kỳ hàng năm có đến 13.000 trường hợp ung thư cổ tử cung mới được tìm thấy và 4.600 trường hợp chết do bệnh gây ra, tính trung bình 3 người trong số 100.000, đứng hàng thứ 3 của những ung thư phụ nữ. Số người chết do bệnh gây giảm xuống rất đáng kể sau khi tìm ra được phương pháp định bệnh sớm từ 1940 qua phương pháp Papanicolaou (Pap test).
Chỉ số người phụ nữ nhuốm bệnh:
– Người Mỹ da trắng:  8,1 / 100.000
– Người Mỹ da đen  : 11.0 / 100.000
Một điểm đáng ghi nhận trong bảng sắp hạng của Viện Thông Kê Quốc Gia (the statistics of the National Institute) thì người phụ nữ Việt Nam mắc bệnh những 5 lần hơn nhóm người Mỹ da trắng.
Yếu tố sinh bệnh
● Yếu tố liên hệ đến tiền ung thư và ung thư cổ tử cung:
– Sự hiện diện vi rút  –  human papilomavirus
infection (HPV)
– Liên hệ tình dục với nhiều đối tượng
– Liên hệ tình dục sớm
– Sinh nhiều con
– Sức đề kháng thấp
– Bệnh HIV
– Thuốc lá
– Có bệnh da liễu trong tiền sử
– Dùng thuốc ngừa thai trên 12 năm
– Mức sinh sống thấp
– Thức ăn thiếu dinh dưỡng, thiếu Vitamine
– Dùng các loại thuốc giảm sức đề kháng của cơ
thể.
● Những yếu tố ảnh hưởng: không chịu áp dụng  cách ngăn ngừa ví dụ:
– 20% người đàn bà sinh sống trên đất Mỹ không chịu đi khám âm đạo
– có đến 50% các bà bị ung thư cổ tử cung phát hiện trễ, đã chưa một lần trong đời khám cổ tử cung.
– đối với người đàn bà Việt Nam còn có thêm những ghi nhận sau đây:
* Theo phong tục tập quán, văn hóa và giáo dục gia đình người phụ nữ Việt Nam không quen nói đến tình dục, bệnh tật ở bộ phận sinh dục, phần đông không đi thứ PAP đều đặn…
* sinh con đầu lòng khá sớm
* nhiều con
* cuộc sống xã hội thấp
* thiếu dinh duởng, không đầy đủ Vitamin
* dễ nhiễm trùng âm đạo và cổ tử cung
* trong âm môn có vi rút human papilomavirus infection (HPV)
● Những điều chú ý trước khi đi thử PAP
– thử PAP vào khoảng ngày thứ 110 – 20 sau khi bắt đầu có kinh
– tránh giao hợp trong 1 – 2 ngày
– không bơm rửa, bôi kem, nhét thuốc vào âm đạo 2 ngày trước khi khám.
Vì sức khỏe của bản thân mình, quý Bà quý Cô nên mạnh dạn đến các các bác sĩ chuyên khoa. Lưu ý 95% phụ nữ bị ung thư vú đều sống sót và  gần như 100% các trường hợp ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm.
Lạc nội mạc tử cung
Lạc nội mạc tử cung là gì?: là một căn bệnh mà các lớp niêm mạc tử cung – Endometrium – sống dựa vào những cơ quan khác của cơ thể, không những sinh ra những cơn đau đớn hết sức khó chịu cho các bà các cô mà còn có thể làm mất khả năng làm mẹ. Vấn đề đáng nói là rất ít người phát hiện ra căn bệnh trước một thời kỳ những 5 năm…
Đó là cũng là nguyên nhân của nhiều hiện tượng khác trong chu kỳ kinh như là: kinh ra quá nhiều, đau bụng dữ dội, chảy máu bất thường, đau khung xương chậu, tiêu chảy, đại tiện khó khăn quanh chu trình kinh; đau hay khó chịu trong hay sau khi giao hợp, bụng sưng phồng, hoa mắt choáng váng… Nội mạc tử cung cũng có thể đi lạc đến buồng trứng, ống dẫn trứng, ruột non ruột già thậm chí bám vào phổi, niêm mạc mũi và cả bộ não. Cứ vào chu trình kinh, lạc mô cũng sưng lên và chảy máu, máu mắc kẹt trong cơ thể nơi đang “định cư” rồi sau đó vỡ ra tạo nên những chất kích động các mô chung quanh, tạo thành sẹo, tạo ra những khối u lành tính phá hủy những lớp mô liên kết các cơ quan. Người bệnh có thể thấy đau lưng, đau bụng hay chay máu tùy bộ phận cơ thể chứa nhóm niêm mạc tử cung đến trú ngụ.
Sự chẩn đoán
Sự định bệnh khó khăn vì cơn đau xuất hiện như biểu hiệu cho một kỳ “kinh rơi” thông thường phải đi khám các bác sĩ sản khoa nhiều lần mới khơi nguyên ra được. Dựa vào các khối u & sẹo gây nên,  do đó lạc nội mạc khó mà phát hiện qua siêu âm, chụp quang tuyến, chiếu hình cọng hưởng từ tính, chụp CT cắt lớp hoặc kiểm tra khung xương chậu.  Bằng phương pháp soi ổ bụng –  laparoscopy –  sự tìm bệnh rất chính xác  và  qua phương pháp mổ nội soi các chuyên gia  đốt cháy các phần bị bệnh, có một nhiều trường hợp khó phải mổ bụng để cắt bỏ đi , sửa lại các vết sẹo ở các cơ quan nội tạng khác. Đây là lối  chửa trị dứt hẳn bệnh.
Có những trường hợp nặng phải cắt bỏ cả hai buồng trứng – có khi phải cắt dạ con. Trường hợp nhẹ thì dùng thuốc làm tắt kinh tạm thời hay dùng thuốc tránh thai, cơ thể sẽ có những phản ứng tốt hơn giúp cho sự điều trị dễ dàng. Một đơn thuốc khá phổ thông và hữu hiệu cho người bệnh này là có con vì những triệu chứng sẽ biến mất khi mang thai. Có đến 40% số bệnh nhân lạc nội mạc tử cung không thể làm mẹ.
Bên cạnh đó để giảm bớt các triệu chứng và những cơn đau cũng nên tăng cường Viatamine và các khoáng chất cho cơ thể; hổn hợp Viatmine B, Calci, Magnê đếu rất tốt cho những người chịu đựng căn bệnh này. Các phương pháp gia truyền như châm cứu hay bấm huyệt có thể giảm cơn đau gay gắt… ◙
● Dr. Tôn-Thất Hứa

(*) dựa theo cuốn les Aliments contre le cancer – những thực phẩm ngăn ngừa chứng ung thư của Prof. Ric-hard Béliveau, Ph.D & Denis Gingras Ph.D. –  l’ Hopital Sainte-Justine – Montréal.

Thảo luận cho bài: "Ung Thư Vú"