Vài Bài Thơ

Tác giả:

Lưu biệt thời tại An Quảng,
An Hưng ngụ thứ (1)

Người về người ở khéo buồn sao,
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn nữa hết,
Ðá vàng lòng nọ xiết là bao.
Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao.
Sớm biết lẽ giời lí có hợp,
Thì mười năm trước bận chi nao.

(1) Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.

Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ kí (1)

Lá ngọc chiều thu giận hẳn du
Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông còn đấy,
Ngọn nước Tam Kì chảy lại đâu(2)
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau.
Trăm năm biết có duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng đầu.

(1) Ðêm thu, nhớ Mai Sơn Phủ, gởi bài này.
(2) Nguyên chú: ” Ðã giải kết đưa tình” Giải kết, theo Ðào Duy Anh, là: ” Cởi mối tình kết buộc với nhau” Còn giải kết đưa tình là gì? Chưa rõ lắm.

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch tiêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan hảo tương kì tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.

Giang bát bát,
Thuỷ hoạt hoạt,
Ngã tư quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng dạm thốn tình tư lưỡng đạt,
Dạ bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt không linh khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Ðằng Vương.

Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.
Nhật kì kì,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kì.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thì phó tình nhi.

Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm,
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm,
Nhất tự sầu phân nhuệ,
Hà nhân noãn bán khâm,
Mạc đàn li khúc oan tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm,
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì,
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi,
Hảo bằng tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ gia kì.

(Hựu Giang Nam điệu)

Dịch vần:

Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng tình quê(1) thảy tịch liêu
Ðêm xuân cảm khái nhiều.

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được tình sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
ý thiếp lòng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Lòng thê thiết
Ðậm nhạt tấc lòng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Ðâu là gác Ðằng Vương

Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn lòng thương

Ngày chậm rì
Ðêm chậm rì
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kì.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách ” tình si”

Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng

Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn li khúc oán tri âm,
Ðành xem như hết tiếng dao cầm(2)
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm(kim).

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiến lí cả(3)
Ai là kẻ tình nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ giai kì

(Theo điệu Giang Nam)
Ð.T.T dịch

(1) Lòng quê là lòng nhớ quê mình. Vậy hình như Sơn Phủ đã đi về quê Xuân Hương. Hoặc là người cùng làng, hay cùng huyện chăng? (Hoàng Xuân Hãn).
(2) Dao cầm: Ðàn quý.
(3) Thiên lí: Dịch từ chữ ” bút thiệt” – bút viết và lời nói. Dương Tử nói: ” Cuốn sách do bút mà thành. Lời nói do lưỡi mà có. Ta xem ” Ngũ thường” là bút và lưỡi của đế vương” . Ngũ thường ở đây là các quan hệ: quân thần, phục tử, phu-phụ, huynh đệ, bằng-hữu. Vì thế dịch là thiên lí.

Thệ viết hữu cảm (1)

Mười mấy năm trời một chữ tình
Duyên tơ này đã sẵn đâu đành
Mái mây cắt nửa nguyền phu phát
Giọt máu đầy hai chén tử sinh
Một kiếp đã tể cùng dạ thắm
Trăm năm đừng phụ với đầu xanh
Mai sau lòng chẳng như lời nữa
Dao búa nguyền xin luỵ đến mình.

Xuân đình lan điệu

Phiên âm:

Nguyệt tà nhân tỉnh thú lâu trung
Ngoạ thính đồng long,
Khởi thính đồng long
Dạ bán ai giang hưởng bán không.
Thanh dã tương đồng
Khí dã tương đồng
Tương tư vô tận ngũ canh cùng.
Tâm tại Vu Phong
Hồn tại Vu Phong
Ân ái thử tao phùng
Nhàn ỷ đông phong
Quyện ỷ đông phong
Nhất viên hồng hạnh bích thanh song
Phồn hoa tích dĩ không.
Kim triêu hữu kiến sổ chi hồng
Oanh nhi nhạc đới xuân phong khứ
Chỉ khủng đào yêu vô lực tiếu đông phong
Phong thanh nguyệt bạch, bả kì hương nhập khách ngâm trung.

Dịch vần:

Bài ca theo điệu xuân đình lan

Trăng tà người lặng từa lầu không(1)
Năm lắng chuông đồng,
Dậy lắng chuông đồng,
Ðêm lắng tiếng buồn vang mé sông
Thanh đã tương đồng,
Khí đã tương đồng
Thanh khí năm canh rộn rã lòng
Tâm ở Vu Phong
Ân ái cuộc tao phùng.
Nhàn tựa gió đông
Mỏi tựa gió đông
Một vườn hồng hạnh biếc xanh song
Phồn hoa tưởng đã không
Sớm nay bông nở mấy nhành hồng
Chim oanh chớ quyến xuân đi nhé
Ta sợ ” Ðào hoa vô lực tiếu đông phong”
Trăng thanh gió mát đem hương vào với các thi nhân.

(Ð.Ð.T dịch)

Nguyên văn: Thú lầu trung – trong chòi canh. Thú lâu là cái chòi canh ở chốn đồn binh. Thư Ðường Huyền Tông có câu: ” Nguyệt lạc thú lâu không” – Trăng lặn chòi canh vắng.

Thảo luận cho bài: "Vài Bài Thơ"