Văn minh quái gở

Tác giả:

(Ông tấn sĩ)


I
Đỗ Quang Trung về nước

Chuyến tàu André Lebon ở Pháp qua Sài Gòn hôm ngày 29 Juillet 19…, lối 9 giờ sớm mai, tàu vừa cập bến hành khách chen nhau lần lượt đi lên. Trên bờ thì rộn rịp, kẻ rước con người rước cháu, tiếng chào mầng xen với tiếng xe cộ vang rân.

Bây giờ ai có để ý trông lên bon tàu sẽ thấy một chàng thanh niên Nam Việt, tuổi độ 25, 26, tay cập một cô đầm, xuân xanh hai chín mặt hoa da phấn đứng dựa bon ngó xuống, không rõ chàng kiếm ai mà sắc mặt hầm hầm, cặp mắt ngó láo liên. Một chập kêu coolie lên khiêng rương rồi cùng cô đầm xuống, lên xe kéo bảo chạy thẳng đến nhà hàng Continental Palace thuê phòng ở.
….
Lối 10 giờ có một cái xe hơi mui kiến hiệu Talbot, trên xe có một ông lão tuổi độ lục tuần kỳ, khăn đen áo dài, mang mề đay đỏ ngực. Xe chạy đến bến tàu vừa đậu ông lão lật đật mở cửa xe bước xuống ngó dáo dác lồi nửa giờ sau thiên hạ tản lạc hết ông mới chịu lên xe bảo sốpphơ rằng: "Chạy qua Saigon kiếm mấy cái nhà hàng, chắc nó trông không thấy rước, nên qua ở ngụ bển".

Xe qua chợ, nhà hàng nào cũng ghé, đến chót mới thẳng lại Continental. Ông lão xuống xe vào đưa cho người thơ ký một tấm Carte hỏi rằng:

– Thầy có thấy người nầy ghé đây không?

Thầy thơ ký tiếp lấy xem Carte ấy như vầy:

Đỗ Quang Trung
Docteur en médecine
Paris

Người thơ ký lẹ làng đặt thiệp trả lời rằng:

– Dạ thưa có, mới vào hồi chín giờ đây, ở phòng số 1.

Ông lão tỏ sắc vui mừng đi thẳng lên phòng, ông không gõ cửa mở chốt đi vào. Ông vừa bước vào thoạt nghe hỏi rằng:

– Entrez, qu'est-ce qu'il y a?

Lời người thanh niên vừa dứt thì ông lão bước vào hỏi cách sốt sắng rằng:

– Mày về bao giờ? Tao…

– Bonjour mousieur.

Cô đầm lại tiếp:

– Good morning sir! (Tiếng Ănglê: chào ông)

– …. ? (ông lão đứng sượng sùng)

Người thanh niên bây giờ nói tiếng mẹ đẻ rằng:

– Tôi về đến hồi 9 giờ, tôi đã sợ ông không biết ngày giờ tàu cập bến, có đánh cho ông ba bốn cái dây thép mà chả biết rằng ông mắc công việc gì ở nhà. Thế là tôi cùng ông bây giờ không còn thân thuộc gì nữa.

Ông lão bây giờ giận run lên, ông nói cách lập cập rằng:

– Trung à, tao sanh mày cho mày ăn học, bây giờ mày báo ơn đáp nghĩa cho tao đó phải không Trung?

– Phải, ông nói trúng thật, ông có công sanh tôi thật, nhưng xã hội buộc ông phải nuôi tôi, ông có con mà không nuôi con ấy là ông không trọn phận làm người. Bây giờ ông không nên kể ơn nữa. Vả lại rồi đây tôi cũng phải nuôi con tôi như ông nuôi tôi vậy.

– Mày thật lớn gan hả Trung? (ông dợm bước đến đánh)

– Ê, ông già, ra lập tức khỏi phòng cho mau.

– Boy boy…!

Nãy giờ cô đầm không hiểu chồng cô và ông già nói sự gì, đến chừng ông già muốn đánh chồng cô, cô nổi giận ngồi dậy xô ông lão ra ngoài rồi đóng cửa phòng lại, và cô an ủi chồng cô.

Ông lão này là quan phủ Đỗ Quang Hiếu, hiện ông đang ngồi tại châu thành Vĩnh Long. Còn anh chàng thanh niên kia là Tấn sĩ Đỗ Quang Trung con trai của ông vậy. Ông sanh có một mình Đỗ Quang Trung, ông cưng như ngọc quí tợ ngà, cho sang Pháp du học gần 12 năm, tiền muôn bạc vạn ông không tiếc, chỉ mong cho con công danh chiếm đoạt thì toại lòng. Phật trời không phụ lòng ông nên Đỗ Quang Trung thi đậu đến chức tấn sĩ. Ông hay được tin chi xiết vui mừng nên ông đi một mình lên rước (vì bà bịnh nhức đầu không đi được). Nào hay đâu con ông bị hấp thụ cái văn minh lạ lùng ấy, làm cho ông ngẩn ngơ. Ông bị cô đầm đuổi lấy làm hổ thẹn nên lên xe bảo sốpphơ chạy về Vĩnh Long một nước.

Xe về đến nhà, bà nghe tiếng xe lật đật chạy ra đặng mừng con, nào hay đâu ra đến nơi chẳng thấy con mà mặt ông giận te lét. Bà hỏi:

– Con nó về chưa tới sao ông?

– Con nào, ối không con cái nào hết, bà nó vào tôi nói cho mà nghe.

Bà nghe mấy lời lấy làm lạ đi theo ông vào nhà, ông bèn thuật các điều ngỗ nghịch của Tấn sĩ Trung cho bà nghe. Bà nghe nói cũng nghẹn ngào, ông tiếp rằng:

– Rõ ràng sanh con ai dễ sanh lòng, tôi cũng liều như không có con, mai tôi vô toà từ nó cho rồi.

Bà khóc rằng:

– Con nó lỡ dại lần thứ nhứt xin ông bớt cơn giận, không lẽ một lần đạp cứt một lần chặt chân, để mai tôi lên hỏi nó coi thế nào rồi sẽ tính.

Ông tuy giận song thấy bà than thở cũng xiêu lòng nói:

– Tự ý bà, tôi e bà lên nó không cho vào phòng nó mà mang xủ.

II
Ly hôn tại hơi đồng

Quan Tấn sĩ Đỗ Quang Trung và phu nhơn ở phòng Continental Palace hai hôm, tiền bạc tính lại không còn bao nhiêu, nên ngài tính phải mở một phòng khám bịnh tại Sài thành.

Song một sự khó là mở một phòng khám bịnh theo điệu Lang Sa và đúng với nhà của quan Tấn sĩ không phải ít tiền, bởi vậy cho nên quan Tấn sĩ còn dụ dự chưa nhứt định phải làm đàng nào?

Sáng hôm thứ ba ông đang nằm yêu ấp cùng cô đầm, thoạt boy vô thưa rằng:

– Có một bà già nói là bà Đốc Phủ ở Vĩnh Long xin vào ra mắt.

Ông biết mẹ lên, nhưng ông cũng tự nhiên như thường, ông bảo boy chỉ đường cho bà lên. Còn ông cứ việc nằm trên giường.

Bà vừa thấy mặt con thì khóc rằng:

– Con tệ làm chi lắm vậy con? Cha mẹ có công sanh dưỡng con cho ăn học thành tài ngày nay con về nước lại ngỗ nghịch làm cho cha con giận. ổng đòi từ con. Sao con không về lại ở đây làm gì?

Bà nói rồi ngồi khóc. Quan Tấn sĩ ta cũng là người chớ không phải cây cỏ chi, nên ông thấy mẹ khóc cũng mủi lòng, ông an ủi năn nỉ mẹ. Bà ngó cô đầm hỏi rằng:

– Con có vợ rồi đó hả?

– ừ, tôi có vợ rồi đó, vợ tôi là đầm đa.

– Sao con không đợi cha mẹ lại làm như vậy?

– Đợi gì, tôi học bên Tây chớ học lạm xạm ở Saigon hay Hanoi sao mà đợi cha mẹ cưới gả?

– Con muốn cưới vợ đầm làm gì đó? Nó giúp việc bếp núc được không? Chớ chi con nghe lời ba má cưới con ông Hội đồng Phán ở Bạc Liêu, giàu có trăm ngàn, lại con một nữa.

– Nó không biết nói tiếng Tây, không biết nhảy đầm cưới làm gì?

– Như ông Toà Chiêu ổng cũng đi tây về, ổng cưới vợ Annam đó sao. Bên vợ lại giàu mua cho ổng hai cái xe hơi, lại cất cho một cái nhà lầu nữa.

Quan Tấn sĩ nghe hơi đồng ông ngồi suy nghĩ rồi nói:

– Vậy thì bây giờ má cho tôi mười ngàn đặng mở phòng khám bịnh tại đây đi.

– Bao nhiêu má cũng cho con hết. Song con phải bỏ vợ đầm đi, rồi về xin lỗi với ba con, má sẽ cho liền. Hai chục ngàn má cũng chạy đủ cho con.

– Hồi nãy má nói chuyện con ông Hội đồng Phán, má chắc cưới rồi họ mua xe hơi cho phải không?

– ừ, đã mua xe hơi, mà con đòi gì được nấy nữa.

Quan Tấn sĩ hứa chịu để cô đầm lại rồi sẽ về Vĩnh Long xin lỗi cha.

Hai hôm sau không rõ quan Tấn sĩ nói thế nào mà cô đầm vui lòng về nước. Còn bà Phủ cũng phải tốn bốn ngàn đồng chịu tiền sơ phí cho cô dâu Âu – Mỹ hồi quê.

Than ôi! Cuộc đời thay đổi nhau mau lẹ, cũng bởi chữ đồng mà ra. Ai không mê mụi vì nó thì người ấy là khách thần tiên vậy.

III
Tiệm may hiệu "Trung Thành"

Tại châu thành Vĩnh Long lúc này dư luận xôn xao, ai ai cũng đồn đãi hỏi đon ren nhau về việc con quan Phủ thi đậu Tấn sĩ về nước có dẫn vợ đầm lại thọ cái văn minh quái gở ngỗ nghịch với cha; tiếng đồn bay khắp xa gần, họ trông mong cho Tấn sĩ về quê đặng coi bộ mặt ra thế nào?

Tiếng đồn ấy bay đến tiệm may hiệu "Trung Thành" làm cho mấy cô thợ may cãi nhau không ngớt. Cô thì chê cái thói văn minh kỳ quái của Tấn sĩ, cô thì nói tiếng phong văn đồn trật, không lẽ quan Tấn sĩ lại nghịch tử như vậy.

Tiệm may "Trung Thành" lập tại Vĩnh Long ngót ba năm nay được tiếng khen ngợi là may khéo, thợ thiện nghiệp. Trong ngoài đều có thứ tự, nhằm lúc này gần tiết ngươn đáng nên chưng dọn thật huê lệ hơn trước.

Người ta nao nức đến tiệm "Trung Thành" đặt may đồ vì cô con gái của bà chủ tiệm sắc nước hương trời, thêm tài hoa trót chúng, nữ công nữ hạnh hơn người.

Tiệm may này chỉ có hai mẹ con lập nên đồ sộ, cũng có tài kinh doanh sự nghiệp thật. Tiếng tăm lừng lẫy, họ đồn vì mẹ góa con côi mà lập thành cơ sở, bởi vậy tại xứ Vĩnh Long chỉ có hiệu "Trung Thành" đắt hàng bực nhứt.

Nhắc lại Tấn sĩ Trung về Vĩnh Long xin lỗi cha, không hiểu việc nhà của quan phủ thế nào mà thấy cha con cũng vui vẻ như thường. Quan Phủ lại bảo con nên đi viếng hết bà con láng giềng quen lớn. Một buổi chiều kia Tấn sĩ Trung đến viếng tiệm may "Trung Thành", cô con gái bà chủ tiệm may mỹ danh là Hoàng Thị Thành thứ hai, nên người ta kêu cưng là cô hai Thành. Cô hai Thành thấy Tấn sĩ Trung vào cô rất niềm nở tiếp rước một cách sốt sắng hơn các người khách khác, mà bà Huyện là mẹ cô hai Thành cũng vui vẻ lạ lùng. Bà Huyện hỏi thăm sự học hành, Tấn sĩ trả lời qua loa rồi đi xem mấy cái tủ kiến chưng đồ nữ công của cô hai Thành. Ông đứng ngắm nghía đồ trong tủ. Cô hai Thành bước đến chỉ cặp gối tự cô thêu rất khéo mà rằng:

– Ông nên mua cặp gối này để phòng rất đẹp, cặp gối này em thêu theo tích truyện tàu trong bộ Tam Quốc Chí lúc "Lưu Bị cầu hôn Giang Tả" người hiếu cổ ai cũng thích.

Tấn sĩ Trung nghe nói nhìn vào cặp gối thấy thêu thật khéo, dưới ký tên hai chữ "Trung Thành" ông mỉm cười đáp rằng:

– Cặp gối thật khéo, sự tích lựa cũng hay, dấu ký tên rất đẹp. Nhưng tôi đây là người đi Tây về không thích dùng đồ cổ nữa.

Không hiểu tại sao mấy lời nói thật của Tấn sĩ Trung mà làm cho cô hai Thành thất sắc. Cô hỏi:

– Thưa ông, ông còn cần dùng việc chi không?

– Lâu ngày tôi về ghé thăm bác Huyện và cô đặng nói bao nhiêu đó mà thôi.

Bác sĩ Trung nói thế rồi cáo từ ra về.

Chiều hôm nay nhằm mùng một tháng sáu, trời tối đen như mực, thêm rơi rớt hột mưa rào, các nẻo đường vắng người qua lại. Lối chín giờ thì tiệm đóng cửa ngủ ráo; đèn ngoài đường cái tắc cái lu làm cho quang cảnh càng thêm buồn thảm. Bây giờ chỉ còn có mấy ánh sáng ở trên lầu tiệm may "Trung Thành" ai cố ý lén trèo lên dòm kẹt cửa sổ sẽ thấy cô hai Thành ngồi trên một cái ghế, mặt ngó xuống mà hai con mắt ướt rượt, thỉnh thoảng cô cầm chiếc cà rá hột xoàn có chạm hai chữ T.T. đưa lên đưa xuống mà lắc đầu chắc lưỡi.

Cô Thành khóc! Tại sao mà cô khóc???

Số là: Cô hai Thành chính là con quan Huyện Hoàng Phú Mỹ, là anh em bạn thiết với quan Phủ Đỗ Quang Hiếu. Khi quan Huyện Mỹ qua đời cô Thành mới 18 tuổi còn học ở Nữ học đường. Lúc quan Phủ và quan Huyện còn làm việc hai đàng năng tới lui nhau thân thiết lắm. Vì vậy cô Thành và Tấn sĩ Trung trước quen sau thành đôi nhân ngãi, cả hai trộm lịnh đính ước việc trăm năm thề thốt nặng lời. Dầu cho sấm sét búa rìu cũng không xa người tri kỷ.

Từ ngày Tấn sĩ Trung sang Pháp du học, thì cô Thành thi đậu tốt nghiệp rồi ra trường về Vĩnh Long, cô không chịu ra làm cô giáo như ai, mà cô biết tự lập lấy thân khỏi mang câu ỷ lại. Bởi vậy cho nên cô lập tiệm may, cô nhớ người tri kỷ xa xui đất khách quê người nên cô để hiệu tên Tấn sĩ Trung và tên cô là hiệu "Trung Thành" đó. Cô ngỡ khách chung tình trăm năm chẳng đổi dạ hai lòng, nên cô quyết khoá vườn xuân mà đợi khách chương đài hoặc người nhân ngãi. Vì nặng lời non nước nên cô chờ đến tuổi này là năm nay nhị thập tam niên chất trên đầu mà tiếng tiểu thơ còn kín cổng.

Nào hay đâu hy vọng của cô hôm nay như nước chảy bèo tan. Lúc ban đầu cô tức cho giống người phụ tình bạc nghĩa. Song sau cô kịp nghĩ có vậy mới biết loài người là giả dối, từ đây cô quyết giữ chủ nghĩa độc thân. Cô nghĩ thế phấn chấn tinh thần lo kinh doanh sự nghiệp cho tốt đẹp thêm nữa.

ấy là tâm trí của cô hai Thành như vậy.

IV
Cô vợ hai chục ngàn

Ngày hai mươi tháng chạp, một cái xe hơi mui kiến từ trong nhà quan Phủ Đỗ Quang Hiếu chạy thẳng xuống Bạc Liêu ghé trước cổng nhà ông Hội đồng Phán. Trong nhà ông bà Hội đồng Phán thấy xe quan Phủ ngừng liền chạy ra tiếp rước niềm nở. Ông Phủ bà Phủ và Tấn sĩ Đỗ Quang Trung bước xuống xe rồi cùng nhau đi thẳng vào nhà. Chuyện trò qua loa rồi ông hội đồng day qua ngó Đỗ Quang Trung hỏi rằng:

– Ông Tấn sĩ rồi đây tính làm việc cho Nhà nước hay là làm việc riêng?

– Thưa bác, nghề y học nếu đeo đuổi vào ngạch chánh phủ thì được trọng dụng, song ý cháu muốn mở phòng khám bịnh tại Sài Gòn, để ngoài bảng đồng cho thiên hạ biết thì kiếm tiền mau lắm.

Ông hội đồng gật đầu:

– Nghề gì thì khó, chớ ông Tấn sĩ dầu ở ngạch chánh Phủ dầu ở ngoài đều được danh tiếng hết.

Ông hội đồng Phán đây người mưu đồ lợi lộc, nhà giàu có trăm muôn, song tánh tình hai vợ chồng rít róng. Thường thường tá điền hoặc người ở cho ông bà có lầm lỗi đều chi bị trói tay chơn mà đánh. Bị thế lực kiêm tiền nên không ai dám hó hé chi cả.

Ông bà có một mụn gái tên là Nguyễn Thị Huê. Cô hai Huê năm nay hai mươi tuổi, cô dỏng dài người, miệng nói có duyên, nước da cô ngăm ngăm, người ta kêu là nước da bánh ít. Cô hồi tuổi nhỏ có học ở Nữ Học Đường hai năm, không hiểu cô giàu có cô không cần bằng cấp hay sao mà khi cô thôi học trở về chỉ thấy chở một cái rương lớn trong rương quần áo son phấn hoặc giày cao gót đặt đóng ở hiệu "Huê – Mỹ" món nào cũng cao giá hơn các cô học sanh khác. Có nhiều chị em bạn gái với cô Huê xầm xì với nhau rằng: Trước rương cô Huê có đề tên cô rằng: "Nguyễn Thị Huê đệ nhứt văn minh vật chất".

Cô Huê từ ngày về nhà có nhiều vương tôn công tử đến nói, cô đều chê là đồ "hủ nho" hoặc tư cách địa vị không xứng cho cô sửa trấp nưng khăn. Phật Trời hay chìu lòng nhi nữ, tơ hồng cũng khéo làm vừa ý cô hai. Chi nên xui khiến cho cô kết duyên cùng ông Tấn sĩ cô lấy làm toại chí lắm.

Cách năm tháng sau có một cái đám cưới rất lớn lao tại xứ Vĩnh Long. ấy là ông Tấn sĩ cưới cô Huê vậy. Sau khi cưới vợ một tháng ông Tấn sĩ mở tại Sài Gòn nơi con đường d'Espagne một phòng thuốc và khám bệnh…

Trước nhà có tấm bảng đồng rất lớn rằng:

Docteur en médecine
Đỗ Quang Trung

Cựu học sanh cựu giáo sư
Cựu học sanh Pháp quốc y khoa
cấp bằng Tấn sĩ

Chuyên môn trị bịnh trái tim, bao tử, đàn bà
Tránh mấy bịnh truyền nhiễm như là:
Bịnh dịch, bịnh ho lao, bịnh ôn, bịnh trái mùa v.v…


Từ ngày mở phòng khám bịnh, Tấn sĩ được đồng bào hoan nghinh. Thứ nhất là mấy bịnh đau trái tim bịnh bao tử, và quí cô quí bà thường đến. Còn mấy bịnh trái mùa, ho lao, hoặc dịch ôn không dám đem đến Tấn sĩ vì ngài chưa thiện nghệ.

Một hôm có một người đàn bà đến xin coi mạch nói bịnh trái tim. Người đàn bà ấy tuổi độ 21 – 22, sắc sảo mặn mà, lưng ong thắt đáy, miệng nói có duyên. Người đàn bà xưng tên là Nguyễn Thị Cúc Hoa nữ sĩ tại Sài Gòn, bây giờ cô đang kết duyên với một người Mái Chính (Mại bản) trong Chợ Lớn. Bác sĩ thấy nữ sĩ Cúc Hoa ăn nói gọn gàng, được phần ngôn ngữ Tấn sĩ thích lắm. Đoạn Tấn sĩ bước lại để tai vào ngực cô Cúc Hoa mà coi mạch. Cô cũng vui lòng, Tấn sĩ coi chập lâu rồi thò tay mở nút áo bày ngực ra, lòi hai cái nhũ hoa trắng nõn mà cô Cúc Hoa cũng vui cười.

Từ đây cô Cúc Hoa thường hay lại coi mạch lắm, mà mỗi khi đến thì đem nhau vào phòng kín mà chích thuốc.

Phần cô Huê thì từ ngày kết duyên với ông Tấn sĩ được duyên mặn tình nồng, cô tự thị lắm, thậm chí đến như cô gặp chị em bạn học với cô xưa cô không muốn ngó, hoặc có nói chuyện thì cô lên giọng là bà Tấn sĩ. Cô Huê lại là người có mắt tinh đời lắm, cô có ý coi sao chồng cô từ một tháng nay lợt lạt với cô lắm, cô ra công rình mò thấy biết chồng cô đã tư tình với cô Cúc Hoa rồi. Cô Huê biết cô nổi nghẹn quyết bắt cho được mới nghe. Song dễ gì mà bắt, làm cho cô thua buồn, từ đây cô kết bè bạn câu tôm tứ sắc, thường cô hay qua nhà cô Còm – mi Đẩu, ở đường hẻm d'Espagne. Sáng sớm cô đi chiều tối cô mới về. Tấn sĩ có hỏi cô đi đâu thì cô trả lời rằng:

– Người ta buồn người ta đi đánh tứ sắc tiền sư một lện cũng không cho nữa sao? Của tiền ai xe đến đây mà cấm tôi được…?

Tấn sĩ nghe vợ nói tức mình song vì mình có tịch nên nín êm, để mặc tình vợ đi đâu tự ý. Sáng hôm sau, cô Huê đến nhà ông Còm-mi Đẩu hai đàng gặp nhau cô Huê hỏi:

– Cô đi đâu vắng a ông?

– ờ nhà tôi về dưới Sóc Trăng.

– Tưởng cô có ở nhà câu tôm chơi, buồn quá.

– ờ nhà tôi đi khỏi còn tôi đây chi?

– Ông biết câu tôm sao?

– Biết chớ.

– Cha chả giỏi quá hé.

Cả hai ngó mặt nhau cười. Còm-mi Đẩu nói với cô Huê rằng:

– Nhựt trình "Công báo" ngày hôm qua có nói một bài ngộ quá, cô có xem không?

– Không, việc gì mà ngộ vậy ông?

Còm-mi Đẩu trao tờ "Công báo" cho cô Huê xem, cô tiếp lấy lật qua lật lại bỗng gặp một bài như vầy:

Coi chừng vài hạng Đốc tơ.

Xứ Nam kỳ ta còn đang lúc bán khai, trong một triệu người có một người đi đặng nước ngoài du học, khi thành tài trở về nước nghiễm nhiên là một tân nhân vật của Việt Nam.

Song than ôi! Hạng ấy lại có một vài ông Đốc tơ vô tư cách.

Như mới bữa thứ năm vừa rồi, vợ tôi đau bao tử, nó đến một vị Đốc tơ kia coi mạch. Còn Đốc tơ này không làm như vậy, lại dắt vợ tôi vào phòng kín đóng cửa lại rồi cởi hết áo vợ tôi ra, đàn bà tánh mắc cỡ, song vợ tôi biết chút lễ nghi coi Đốc tơ như cha vậy nên nó không nói. Đốc tơ ấy thấy vậy lại cứ cà rà rờ rẫm, nó tưởng là coi mạch cũng làm thinh, Đốc tơ ấy rờ rẫm một chập tình dục nổi lên liền ôm vợ tôi mà hôn và nói rằng:

– Mình cô trắng nõn, tôi thấy tôi thương quá.

Khi ấy vợ tôi cho cậu Đốc tơ ta một bài học. Nó có phân chứng với hai người khách khác.

Vị Đốc tơ ấy hiện giờ ở tại đường d'Espagne tôi không nói ra đồng bào cũng biết là ai rồi.

Ký tên Hoàng Diệp

Cô Huê xem rồi cô không lấy gì làm lạ mà cười ngất, cô bước lại đưa tờ báo cho Còm-mi Đẩu, Còm-mi Đẩu nắm tay cô Huê hai đàng kéo qua niếu lại một chập rồi ôm nhau hôn chùn chụt. Làm cho chị ở đi chợ về mới bước vào, chị ở ngó thấy liền sục trở ra đứng ngoài chờ hai đàng hết hôn mới bưng rổ vô.

Thế thì từ đây ông ăn chả, bà cũng có nem. Từ ngày tờ báo ra rồi ai ai cũng biết đó là Đỗ Quang Trung, thiên hạ đều tránh. Tấn sĩ Trung bây giờ kiếm tiền không được nữa thành ra người vô dụng.

Một hôm Tấn sĩ Trung cùng cô Cúc Hoa xuống cột cờ Thủ Ngữ uống rượu, cả hai đang ngồi chuyện trò vui vẻ, không rõ thằng Khuyển thằng Ưng nào chạy về báo cho cô Huê rõ, cô liền kêu xe kéo đến bắt được tại trận, cô dùng nhiều tiếng thô lỗ mắng rằng:

– Đốc tơ gì mầy mà xưng Đốc tơ, đốc đĩ chớ đốc tơ, bịnh tới thì mò… Đồ khốn nạn mày phải để tao ra.

Tấn sĩ Trung nhịn không được đánh cô hai bợp tai, cô nằm vạ la mã tà inh ỏi. Lính đến mời cả hai về bót, cô một hai đòi để cho rằng: chồng cô có học thức mà dùng thói võ phu cô không bằng lòng ở nữa. Cô xử huề. Cô về nhà nội đêm bao xe về Bạc Liêu nói thế nào mà vợ chồng ông Hội đồng chịu cho cô để chồng.

Tấn sĩ Trung còn tiếc gia tài nên cứ dụ dự không chịu việc ấy lôi thôi cô Huê cũng lên ở chung như thường, một điều là cả hai không ai nói tới ai, đi đâu thì tự ý.

Chiều bữa thứ bảy cô Huê sửa sạng dồi phấn thoa son ra đi. Tấn sĩ Trung tức mình song không dám nói, đi ra đi vào thình lình thấy tấm carte rớt dưới gạch. Tấn sĩ lấy lên xem có mấy hàng chữ như vầy:

"Vợ tôi đã về Sóc Trăng hôm qua rồi, xin cô lại chơi đừng sợ gì hết".

Carte ấy là của Còm-mi Đẩu, bác sĩ Trung xem rồi thất sắc, bây giờ mới rõ hèn chi vợ mình hay qua nhà Còm-mi Đẩu và đòi để bỏ nhau là vậy. Tấn sĩ tức mình lấy súng lục liên bỏ túi đi qua nhà Còm-mi Đẩu, đến nơi thấy cửa đóng. Tấn sĩ Trung đi nhẹ nhẹ dòm vào ổ khoá thấy vợ và Còm-mi Đẩu đang nằm chung trên ghế bố, cả hai ôm nhau nựng nịu giỡn hớt cười nói rất tự do.

Tấn sĩ Trung nổi ghen không kể gì phải quấy liền đập cửa rầm rầm. Còm-mi Đẩu biết Tấn sĩ Trung qua liền bảo cô Huê đi vòng ngã sau về nhà, cô Huê đi rồi mở cửa Tấn sĩ Trung móc súng bắn xả vào mặt Còm-mi Đẩu, nào dè Còm-mi Đẩu có nghề võ đã dự phòng trước nên tránh khỏi rồi lẹ như chớp nhập nội bắt cườm tay của Tấn sĩ Trung cứng như kềm sắc, Tấn sĩ Trung đau quá nên buông rơi cây súng. Còm-mi Đẩu liền tai Tấn sĩ ba bốn bộp tai rồi sai đứa ở đi kêu lính đến.

Việc này Còm-mi Đẩu thắng, sau khi tòa phạt Tấn sĩ Trung hai tháng án treo vì tội hung dữ xông vào nhà mà bắn người.

Tấn sĩ Trung tức mình về nhà rầu lo ăn ngủ không được. Bữa sau lại có trát toà đòi Tấn sĩ vô toà thấy có đủ cha mẹ vợ và vợ kiện đòi ly hôn. Tấn sĩ Trung không thể dây dưa được nữa nên bằng lòng tự thuận.

Sau khi để bỏ xong cô Huê về làm bé Còm-mi Đẩu, Tấn sĩ Trung thì về Vĩnh Long ở với cha. Té ra cái tài của Tấn sĩ bây giờ vô dụng.

V
Có trời mà cũng có ta

Cái chết của Tấn sĩ Trung
Cái sống của cô hai Thành

Người đời thường nói rằng: "Có trời mà cũng có ta" hoặc "những đứa vô nghì làm gì nên thân". Như Tấn sĩ Trung ỷ tài tự thị, công cha mẹ sanh thành nuôi dưỡng cho nên người, xuất tiền bạc ngàn bạc muôn cho ăn học, chàng hấp thụ được cái văn minh khốn nạn ở trên óc, mới ló đầu về nước nhà, ngay ông bà tiên tổ cha mẹ của chàng mà thị oai, rồi lại vì tiền tài đàn xa vợ Đầm, vì ham chữ đồng quên người thệ hải minh sơn là cô hai Thành. Con người ấy thật là vô dụng, nói cho đúng là con sâu của xã hội. Làm Đốc tơ không đủ thiên tư, xem như tấm bảng đồng đề mấy chữ tránh bịnh lây thì đã rõ, đã vô thiên tư mà lại không có tư cách, anh ta lợi dụng nghề thuốc mà mò đàn bà con gái. Khốn nạn thật, quân mặt người lòng thú thật.

Nhắc lại Tấn sĩ Trung về Vĩnh Long không mấy tháng, kế ông Đốc phủ Đỗ Quang Hiếu qua đời. Cậu Trung bây giờ phải lo an táng cha rồi dọn đồ về nhà tại Ngã Tư mà ở.

Một hôm Tấn sĩ Trung đi chợ, không rõ chàng nghĩ thế nào mà ghé tiệm may "Trung Thành" chàng vừa bước vào thì mấy cô thợ may chào rồi ngó mặt nhau cười.

Tấn sĩ Trung hỏi thăm rằng:

– Có bác Huyện và cô Hai ở nhà không?

Một cô thợ trả lời có, rồi chạy vào. Trong năm phút thấy cô hai Thành ra, cô chào rồi hỏi rằng:

– Thầy muốn mua món chi?

Tấn sĩ Trung nghe cô Thành hỏi, chàng ta hổ thẹn lắm, song trả lời rằng:

– Lâu ngày tôi ghé thăm bác và cô.

– Cám ơn, thầy ở đâu sao em không biết?

– Cô quên tôi sao? Tôi là Tấn sĩ Trung đây.

– ủa té ra ông là Tấn sĩ Trung sao? Bị ông đi Tây về nên tôi quên lửng.

Tấn sĩ Trung nghe nói càng hổ thẹn hơn nữa, chàng ta không biết nói lời gì. Đứng giả ngó vào tủ xem, rồi hỏi rằng:

– Tôi nhớ năm xưa cô có thêu một cặp mặt gối rất tốt, tôi muốn mua một cặp như vậy.

Cô hai Thành cười nói:

– Thầy muốn mua gối phải không? Này để tôi lấy cho mà xem.

Cô đi lại mở tủ lấy cặp gối giống y như cặp khi xưa, song hai chữ Trung Thành đã đổi ra "Chí Thành" Tấn sĩ Trung cầm lật qua lật lại xem. Cô Thành liền chỉ hai chữ Chí Thành mà nói rằng:

– Hai chữ này là hiệu tiệm của em, xưa em để "Trung Thành" tỏ ý ngay thật với mọi người, sau khi em suy nghĩ lại không phải Trung mà Thành được, nên em đổi lại là "Chí Thành" con người ta có tâm chí muôn sự mới thành, người không tâm chí là người vô dụng. Cặp gối có ý nghĩa em muốn để làm kỷ niệm cho hiệu tiệm em, song thầy muốn em cũng để lại cho, nhưng giá phải mắc gấp mười.

– Giá bao nhiêu vậy cô? Tấn sĩ lóng rày tiền bạc eo hẹp, có đâu đến số bạc trăm mà mua gối. Một sự phiền phức là mỗi tiếng nói của cô hai Thành dường như mỗi ngọn gươm đâm vào tim phổi của Tấn sĩ vậy.

Tấn sĩ Trung xem rồi đáp rằng:

– Cặp mặt gối tốt thật, song đắc giá một chục.

– Không đắc giá đâu thầy à, em nhớ xưa, cách đây lối hai năm có một người đàn bà ở ruộng gắng công may một cặp mặt gối bằng vải tây đỏ, trong dồn bằng lá chuối để nằm, sau khi nhờ trời nhỏ phước làm ruộng trúng trong hai năm giàu có đến trăm ngàn. Hai vợ chồng nghĩ hồi còn nghèo khổ nhờ cặp gối đỡ trong giấc ngủ, nên bây giờ quý trọng nó lắm, họ thị giá đến hai chục ngàn kia lận.

Có một người kia ở ngoại quốc mới vào xứ Nam Kỳ nghe đồn cặp mặt gối hai chục ngàn cũng tầm. Đến cấp kỳ mua cho được, em nghe người kia mua về thành ra đồ vô dụng, mới tức mình vì tánh hay chuộng lạ, không dè một nhà triệu phú An Nam dùng cặp mặt gối thế mà bán đến hai chục ngàn, rồi tự giận mà chết, đáng kiếp cái đời chuộng lạ của người ấy. Em nói thế là so sánh cặp gối này tốt đẹp, thêu khéo, làm bằng satin trong dồn gòn thứ nhứt hạng, mà còn thua cặp gối vải tây đỏ dồn lá chuối kia. Phải chi người chuộng lạ ấy mà mua được cặp gối của em chắc không đến nỗi tự giận. Cũng đáng thương thật.

Em nói thế chớ thật không bao giờ bán cặp gối này cho ai cả. Dầu một triệu bạc, dầu đổi lấy sanh mạng, dầu mặt trời mọc về hướng tây, gối của em thì em giữ chớ không bán không rời.

Cô Thành nói đến đây tay chỉ vào tủ nói:

– Kìa, còn nhiều thứ tốt, thầy muốn dùng em lấy cho thầy xem.

Tấn sĩ Trung nghe mấy lời nói dường như xây xẩm mày mặt, đến nỗi đứng không vững muốn té. Đoạn từ giã rằng:

– Trong mình tôi có bịnh, xin từ cô hôm nào bớt sẽ lại mua cũng không muộn gì.

– Cám ơn thầy.

Tấn sĩ Trung ra xe về, trong lòng đau đớn vô ngần, không hiểu Tấn sĩ nghĩ thế nào mà mặt đỏ lòm tay rút súng lục liền bắn vào óc mà chết trên xe hơi.

Kết cuộc bác sĩ Trung chết.

Kết cuộc cô hai Thành sống.

Trung chết Thành sống là phải. Vì Trung…

(Do quá cũ nên trang cuối cùng của tác phẩm bị rách mất, có lẽ thiếu mất vài dòng bình của tác giả mà thôi – NST).

Rút từ Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Thảo luận cho bài: "Văn minh quái gở"