Về Trịnh Công Sơn

Tác giả:

Có người đề nghị tôi viết về Trịnh Công Sơn nhân ngày giỗ thứ 5 của anh vì họ thấy tôi hay lang thang với TCS ở mấy quán ăn bình dân khi Sơn còn nghèo. Tôi lắc đầu lúc cô ca sĩ trình bày bản Tiến thoái lưỡng nan. Tôi biết hoàn cảnh của TCS, hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan” của Sơn không phải thế!
Tôi quen TCS qua Nhạc sĩ Miên Đức Thắng. Tôi hay chở Miên Đức Thắng trên chiếc vespa lịch sử của tôi, chiếc vespa còn mới nhưng bề ngoài như xe phế thải. Tôi với Thắng hay ghé lại Sơn lúc còn tạm trú tại một khu gọi là “phòng” cho lịch sự, được vây bởi mấy tấm ván trong căn nhà tôn, trong khuôn viên Đại học Văn Khoa, thì phải. Từ đây chúng tôi thả bộ chừng 200 feet đến quán cơm bình dân. Gọi là “quán” cho lịch sự, chỉ là sạp nhỏ nằm dưới chân cầu thang, bán nước chanh, cà phê, cơm bình dân cho sinh viên nghèo và cả giới xích lô. Lúc đó, chúng tôi nghèo thế. Có lần cả 3 đứa đói, gom vừa đủ tiền gọi một dĩa cơm trắng lớn và một hột vịt luộc dằm với nước mắm, để trên chiếc ghế đẩu. Ba đứa ngồi trên ba chiếc ghề đẩu lùn, chỉ sợ mạnh tay, đổ ụp mâm cơm là cả ba… chỉ có nước ăn mày!

Thế rồi Sơn nổi tiếng, tôi bận bịu việc đi dậy, học hành và sau này, công việc báo chí, thỉnh thoảng gặp nhau, cụng vài ly rượu, nói chuyện.. tào lao rồi… hẹn gặp lại.

Khi Nick Út ở chung nhà với tôi, lên máy bay sang Phi sau đêm Tổng thống Thiệu khóc, chửi Mỹ, bàn giao chức vụ, tôi không tha thiết với công việc báo chí, lúc này, tôi hay gặp Sơn ở nhà hàng Khánh Ly, ngồi ngoài đường ăn xôi, uống nước trà vối.

Tôi không biết nhiều về âm nhạc, nghe nhạc như “đờn gảy tai trâu”, nên không xem Sơn là thần tượng âm nhạc. Gặp nhau, chưa bao giờ nói chuyện âm nhạc, toàn chuyện tiếu lâm, trên trời dưới biển, chuyện gái, vào những ngày cuối, nói chuyện ra đi.

Tôi là ký giả về Việt Nam sớm nhất, muốn biết về văn nghệ 13 năm sau bức màn sắt, nên gặp Sơn, ngoài bạn bè cùng cụng ly, Sơn giúp tôi thực hiện những cuốn “Văn nghệ sĩ còn ở lại”. Tôi và Sơn cùng “khốn khổ, dở khóc dở cười” khi quay những cuốn này. Công an ngăn cản tôi quay film, không có gì lạ, luật lệ khó khăn cho cả nước. Nhưng công an cũng không nể gì Sơn. “Mi mà đưa được những thước phim này qua Mỹ, tau phục!” Tôi đã làm được việc đó. Không ngờ ngày Sơn nói câu đó đến nay, đã 19 năm!

“TOA… MOA”

Tôi với Sơn không thân lắm, nên thường xưng nhau bằng “toa, moa”, lâu lâu có tiếng “tau”. Quen với Sơn từ lúc còn hàn vi, đã khá nổi tiếng rồi, nhưng ca sĩ, nhạc sĩ chưa quen trả tác quyền cho nhạc sĩ sáng tác hay sao đó, nói chung, những anh em liên quan đến văn nghệ, báo chí đều… rách. Tôi còn là sinh viên, giờ nào không tròng cà vạt đi dậy thì ghi cour, mảnh bằng tương đương với tấm giấy hoãn dịch. Cùng hoàn cảnh với Sơn.

Khi làm báo, cả sinh hoạt chính trị Việt Nam chỉ quanh quẩn gần đường Tự Do, quán Brodard, Givral, café Continental, Pôle Nord… Sơn lúc đó xoay sở sao đó, không biết có giấy hoãn dịch trong túi chưa, nhưng cũng chỉ lang thang trên con đường Tự Do. Toa moa không thân nhưng có dịp gặp nhau, tỉ tê cả giờ. Nói chuyện với người cùng cảnh, cùng lứa tuổi… toàn chuyện tầm phào. Nếu viết lại những chuyện tầm phào, chắc chỉ viết sách. Giới hạn trong bài báo, tôi chỉ nhắc về một vài chuyện.

“ĐI HAY Ở”

Những ngày cuối của tháng tư, 75, gần như sáng nào tôi cũng ngồi với TCSơn ở quán Khánh Ly và nói chuyện “dzọt”. Một lần có thêm Phương của Lê Uyên Phương. Phương chạy từ Đà Lạt, tới Sàigòn, trong lúc ngồi với tôi và Sơn, Phương than nhớ nhà, phải về Đà Lạt chia tay một lần. Lần đó Phương về và kẹt lại, không rõ có bị đi học tập hay không. Sau này vượt biên gặp lại, 5 hay 6 năm sau, ăn với nhau cơm rau đay, cà ghém ở nhà Khánh Ly.

Sơn bị ám ảnh con tàu chở đủ mọi thành phần từ Đà Nẵng vào Phú Quốc đến Sàigòn. Trên con tàu này, một số binh lính vô kỷ luật, cướp của giết người bị tịch thu hết tài sản đã cướp được và bị hành quyết tại bờ biển Phú Quốc. Sơn dứt khoát chọn ở lại, với lý do sợ nhìn lại cảnh di tản này. Khi trực thăng chở gia đình tôi ra Đệ thất hạm đội, theo dõi tình hình trong nước qua chiếc radio nhiều băng tần, tôi nghe tiếng Sơn và bản Nối vòng tay lớn, hát đi hát lại nhiều lần.

Ở hải ngoại, TCS bị lên án “chạy theo cộng sản”. Trong lúc các quân nhân bị tù cải tạo, Sơn cũng bị tù cải tạo bằng hình thức khác vì tội đã chạy từ Huế vào Đà Nẵng, rồi từ Đà Nẵng về Sàigòn. Viết sách, tôi sẽ trình bày những ngày Sơn trả giá cho tội “chạy bỏ cách mạng”.

TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHẠC VÀNG

Tôi về Việt Nam quá sớm. Sàigòn lúc đó thật xơ xác đến não nề. nhìn lại Sàigòn sau 11 năm xa cách, ít ai cầm được nước mắt. Gặp lại Sơn, chỉ chia nhau những ly rượu, ít tâm sự, ít nói năng vì sau 11 năm xa cách, không ai rõ con người của nhau ra sao. Ai cũng e dè, ngại ngùng. Lúc đó, tôi đã thành công trong ngành địa ốc, đã du lịch nhiều quốc gia và có thói quen mang rượu trong va ly. Miên Đức Thắng lúc ngồi quán café của Tưởng, khu chợ trên đường Hai Bà Trưng, nói, “Mày cho tao coi passport của mày, xem nó ra sao, mày được bay bổng như chim, còn tao ở một xó!”

Tôi đã nhìn thấy Sơn hạnh phúc với những ly rượu “ngoại”. Vì lúc đó, ngoài ông chủ nhiệm báo Tin Sáng Ngô Công Đức ra, ít chỗ nào có rượu “ngoại” đúng nghĩa. Sơn mê rượu và đã bị ma rượu hành hạ. Thân thể Sơn gầy như cây tăm, đội chiếc nón phớt, chạy chiếc mô bi lét mà tôi có cảm tưởng gió mạnh có thể làm Sơn lạc tay lái. Hình Sơn với chiếc nón phớt đã gợi cho họa sĩ Hồ Thành Đức vẽ lên một Trịnh Công Sơn Việt Nam. Bức họa này đã hiện diện trên nhiều báo trong và ngoài nước và những nơi hội họp nói về TCS.

Sau khi vợ chồng tôi bị công an tạm giữ vì chụp hình Bùi Giáng lúc ông múa máy và chửi Bác trên cầu Trương Minh giảng, buổi chiều ngồi uống rượu trong nhà Sơn, trước khi Bùi Giáng đẩy cổng vào uống chung, Sơn khoe sắp cùng Phạm Trọng Cầu, Miên Đức Thắng hát lại nhạc “vàng”.

Chỉ có những người còn ở lại mới hiểu thế nào là nhạc vàng. Nhạc vàng là những bản nhạc sáng tác trước 1975, nhiều người ưa thích. Trên một chục năm, âm nhạc Việt Nam vẫn được sáng tác, nhưng “sao ấy”. Nghe không hiểu gì cả, chỉ cây có nói với núi sông, thuyền nói với biển, cây nói với rừng và gần như không có bản nào người nói với người. Trên 10 năm, Việt Nam thiếu nhạc tình ca.
Về Mỹ trang bị máy quay mới và quay lại Việt Nam ngay cho kịp ngày nhóm Phạm Trọng Cầu, Miên Đức Thắng, Trịnh Công Sơn khai mạc đêm hát nhạc tiền chiến trên lầu câu lạc bộ cũ cạnh bờ sông Sàigòn. Đêm khai mạc tôi còn ngồi trên máy bay.

Tôi không biết gì về nghề quay phim. Tôi là dân chơi nhiếp ảnh nghệ thuật từ hồi còn nhỏ, lang thang đi chụp với các anh như Nguyễn Cao đàm, Cao Lĩnh, Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Tính, Thái Đắc Nhã… mỗi tuần. Nhờ vậy khi làm báo, tôi đã thành công nhờ chiếc máy chụp hình. Không biết về quay phim, trên máy bay là thời gian tôi học quay phim với máy móc tối tân, thay thế chiếc máy quay cầm tay mà tôi đã quay những cuốn “Hà Nội dưới mắt ký giả Nguyễn Tú A”, sau đó có Sàigòn, Cần Thơ… người mua phải khóc thét lên vì những thước phim quay chơi, bằng máy nhỏ tí, không biết nghệ thuật quay. Xem xong mấy cuốn phim trong chuyến đầu của tôi, người nào không chóng mặt là còn khoẻ mạnh! Quay bằng máy nhỏ, lại không biết cách quay phim, ngồi trên xích lô, sợ công an nhìn thấy máy, che máy bằng khăn… thế mà 15 máy in, chạy 24/24 vẫn không kịp cung cấp cho thị trường. Người xem chỉ cần thấy Sàigòn. Mai Thảo, Phạm Duy, Bùi Duy Tâm chỉ cần nhìn lại được Hà Nội, khóc như trẻ em, là thỏa mãn.

Đêm đầu tôi quay với chiếc máy tối tân nhất của Sony về Super VHS với tape desk dài 2 giờ, đêm nhạc tiền chiến kể như thất bại vì công an hành tôi. Chỉ quay được vài phút là công an có mặt. Đút tiền, công an không dám lấy. Đêm sau, chỉ xin quay vài phút. Miên Đức Thắng dụ mấy công an xuống tầng dưới uống rượu ngoại, vài phút họ lại lên phòng trình diễn bắt dẹp máy. Một đêm, Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu lấy cớ ở nhà lo tang lễ cho bố để mình tôi và Miên Đức Thắng xoay sở, cũng chỉ quay được hai bài “Hòn Vọng Phu” là công an cúp điện. Khi quay, tôi để ý tối nào cũng thấy nhạc sĩ Lê Thương, tác giả Hòn Vọng Phu. Đêm tôi quay lần đầu, thấy Lê thương khóc. Sau khi 3 lần quay thất bại, tôi đi tìm Lê Thương.

Gặp Lê Thương ở nhà, tiếp tôi tại phòng khách cũng là phòng ngủ, trống trơn còn mỗi chiếc nệm vì đồ đạc đã bán hết sống qua ngày. Tôi hỏi Lê Thương, “Tại sao anh khóc khi nghe nhạc phẩm Hòn Vọng Phu?” Anh trả lời, “Mười mấy năm không nghe lại nhạc của mình, không thấy đứa con tinh thần của mình, thấy lại, nghe lại, làm sao không khỏi khóc!” Bản nhạc do 3 cô bé trình bày, giọng nam là một ca sĩ lạ, bây giờ đang phụ trách ca nhạc mỗi đêm ở Đà Lạt Bistro trên đường Brookhurst.

Ở lại Việt Nam mới thấy dân Sàigòn trịnh trọng nghe lại nhạc vàng. Trình diễn mỗi đêm mà họ phải mua vé trước cả tháng. Giờ trình diễn họ nghe chăm chú như chiêm ngưỡng. Tôi cũng quay cảnh này ở Hà Nội với nhóm Đoàn Chuẩn, Khắc Hoè, nhưng gần 2 năm sau Hà Nội mới dám hát nhạc tiền chiến.

Tôi hỏi Lê Thương có cách nào tôi quay trọn vẹn 3 bài Hòn Vọng Phu mà không bị Công An ngăn cản?, Nhạc sĩ Lê thương ngồi nghĩ và tìm ra giải pháp. Quay 3 bài này mà công an để yên là khi có xếp lớn ngồi nghe. Ai có khả năng mời xếp lớn? Là ca sĩ Hồng Vân, lanh lợi, quen nhiều. Tôi quen Hồng Vân, trước 75, tôi hay mời cô đi theo nhóm ảnh nghệ thuật làm người mẫu. Hồng Vân vui vẻ. Nhân vật thẩm quyền cao cấp nhất của âm nhạc miền Nam lúc đó là Sáu Tòng. “Bằng mọi cách, Vân sẽ mời được và Vân sẽ hát!” Trịnh Công Sơn hí hửng từ chiều.

“Thưa quí vị, tôi muốn giới thiệu đến quí vị bản nhạc mở đầu Nắng chiều của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Nhạc sĩ Lệ Trọng Nguyễn đang ở Hoa Kỳ. Anh bị bịnh lao vào thời kỳ thứ 3, thời gian anh còn sống không còn bao lâu nữa. Tôi hy vọng chúng ta trình diễn nhạc của anh như một lời hỏi thăm, chúc anh khỏe…” Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu nghiêm chỉnh giới thiệu. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu có thế lực vào lúc đó, nhờ anh từ Pháp về. Khi nghe giới thiệu, tôi cũng tưởng nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn bịnh nặng. Khi về Mỹ, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn rủ tôi xuống lầu uống càfé và nhờ tôi lo giùm anh mấy ticket bị phạt, tôi hỏi bịnh tình anh ra sao, anh bảo, “Tao có bịnh gì đâu!” Lúc đó tôi mới hiểu ý của Phạm Trọng Cầu. Từ đó, tôi mới hiểu tại sao nhạc vàng bị đổi tên tác giả chỉ vì mục đích hợp pháp cho nghệ sĩ được trình diễn.

19 năm rồi, nghĩ lại, tôi vẫn còn nhớ lần quay những tập “Văn nghệ sĩ còn ở lại”, nhất là ba Hòn Vọng phu. Sơn luôn luôn đi sát tôi, bảo vệ trong lúc tôi quay, không cho công an lại gần và không cho ai đụng vào người tôi trong lúc tôi vác chiếc máy nặng, đeo tape desk cả chục cân. Hồng Vân hát, mỗi lần đến đoạn hay, cô lại đến gần ông Sáu Tòng để tôi quay có hình Sáu Tòng trong phim, mục đích người kiểm duyệt không dám xóa hay tịch thu phim của tôi. Trong tác phẩm của tôi, lâu lâu lại có tiếng Sơn “Tú…Tú…” tôi lia ngay đến ngón tay của Sơn chỉ về chỗ ông Sáu Tòng, lia máy về chỗ ngón tay Sơn chỉ, với mục đích có hình của ông Sáu Tòng, phim tôi có thể đến được Mỹ.

Khi tôi phát hành những thước phim này ở Mỹ, tôi đã bị chụp là tuyên truyền cho cộng sản. Còn Sơn lúc nào cũng mang mác buồn, nhất là lần anh nghe được bạn bè dùng mấy câu thơ chửi anh:

Thằng nhạc sĩ vàng
Ôm guitar đỏ,
Nhạc đang vàng,
Bỗng hóa thành da cam.

Thảo luận cho bài: "Về Trịnh Công Sơn"