Việt Nam! – Quê Hương Tôi

Tác giả:

* Bài viết này xin làm một món quà nhỏ gởi đến cho những ai còn nghĩ đến 2 chữ VIỆT NAM, để biết thêm về một Quê Hương sau ngày 30/4/75) 

Nhìn lá thư nằm dưới bình hoa trên bàn làm tôi xúc động. Sự xúc động không phải vì vui, vì hạnh phúc mà vì những khổ đau, day dứt khắc khoải như bao bọc chung quanh làm tim tôi nặng trĩu. Đầu óc tôi quay cuồng vì những dồn dập đưa đến.

Tin tức trên TV diễn tiến từng phút một về những buổi họp thượng-đỉnh của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa-Kỳ và Irad. Những cuộc bàn cãi của Quốc Hội nên hay không nên chấp nhận có chiến tranh. Những chuẩn bị chiến tranh, những trò chơi của chiến tranh sắp sửa diễn ra trên một phần đất nhỏ bé trên địa cầu nhưng đầy hấp dẫn đối với các nước lân bang, đối với các cường quốc trên thế giới. Một phần đất có thể thiêu sống, huỷ hoại hàng ngàn người, nơi một trận chiến không có rừng cao, núi thẳm, nơi chỉ là một sa mạc mênh mông, nơi chỉ có sự sống và sự chết, nơi sẽ không có những mất tích, không có sự đào thoát…

Tôi lo sợ một đại chiến sẽ xảy ra, sẽ thiêu huỷ sự sống của con người, cũng như biết bao nhiêu người lo sợ để rồi những đám biểu tình chống chiến tranh với hàng ngàn biểu ngữ dơ cao: 

“xin đừng đổi dầu bằng máu”

Những em bé ngây thơ trong lớp học ở Do Thái đang mở những đôi mắt to tròn ngạc nhiên nhìn những vật dụng chống chiến tranh, chống hoá học, những vật dụng mà các em sẽ phải đeo vào hay dùng đến khi cuộc chiến xảy ra.

Quê Hương tôi cũng đã trải qua những kinh hoàng hồi hộp đó, biết bao nhiêu tang tóc xảy ra để rồi sau cuộc chiến… trên đường phố đã có biết bao kẻ không nhà, không cửa. Con mất cha, vợ mất chồng, gia đình ly tán, những hình hài tật nguyền ngồi lê lết xin ăn. Những Thương-Phế-Binh chống nạng với cây đàn nghêu ngao hát để chờ lòng bố thí của người qua lại.

Quê Hương tôi đó, sau chiến tranh còn lại gì?… không còn gì cả, không còn cả một chỗ đứng dung thân an lành cho cuối một đời người như thư của Chúc gởi sang từ VN cho gia đình ở Canada, Ba Mẹ tôi đã copy và gởi sang làm tôi thêm cay đắng, thêm chán chường, chua xót cho cuộc sống của những con người đang mất quyền làm người. 

“….Cách đây mấy hôm, con có nhận được thư của các em, qua những lá thư đó, con biết Ba Mẹ và các em vẫn chưa thể yên ổn tâm hồn, cũng như chưa vui được gì trong cuộc sống mới, hầu như mọi người đang thèm và mơ lại những ngày sống yên ả ở VN ngày xưa, những ngày không cần nổ lực vất vả gì mà vẫn đủ ăn, đủ sống. – Những ngày đó không còn nữa, bây giờ không còn được như vậy đâu Ba Mẹ ạ, tất cả đã qua rồi…Bây giờ là cái thời “Bình Quân Chủ nghĩa”, thời kỳ mà nó đánh đồng mọi giá trị trong xã-hội, người sang cũng như người hèn, giầu cũng như nghèo, người có học cũng như người vô học… bằng vào cái lối quản trị tồi tệ và ngu ngốc của mười mấy năm qua đã khiến cho người dân khốn đốn, không được no đủ và vui sống.

Đến nay, tuy Ba Mẹ và các em mới ra đi được 2 năm, nhưng tình hình còn xấu và tồi tệ hơn xưa nhiều lắm. Hàng hoá thì sẵn nhưng người dân không có tiền mua. Tiền của dân gởi vào các cơ sở tín dụng thì bị vỡ và quỵt sạch. Mãi lực chung của thị trường càng ngày càng thấp đi. Đồng tiền trở nên khó kiếm, lương thực, hàng hoá trở nên mắc mỏ, chẳng ai đủ tiền để ăn xài. Ra buôn bán khéo lắm thì chỉ đủ để bảo toàn đồng vốn (nhưng chẳng mấy ai), khó kiếm tiền nên việc người ta lường gạt lẫn nhau trở nên rất phổ biến.

Thư các em nói nhiều đến nạn thất nghiệp. – Ở đấy là 7, 8 hay là 10%, đi chăng nữa, còn ở đây là bao nhiêu các em biết không? Toàn bộ số quân rút về từ Campuchia vẫn đâu kiếm được việc làm, rồi thêm số đông bị đi lao động ở các nước CS trở về cộng với số lao động bị thải ra vì thu hẹp sản xuất. Bao nhiêu người ở đây chỉ mong có được một việc làm đều đặn dù lương thấp, dù lao động nặng nhọc, nhưng vẫn không có việc để làm. Những công-ty, những xí-nghiệp có đủ vốn để hoạt động, thường là liên danh với các nước ngoài, những công ty này chỉ tuyển theo trình độ học vấn và nhiều kinh nghiệm cũng như về sinh ngữ… Đấy chỉ là mới sơ qua về vấn đề kinh tế thôi, còn bên cạnh là việc giáo-dục, y-tế, an ninh xã hội thì sao? Tất cả cái này anh không thể kể hết được trong một lá thư… giá mà được ngồi một buổi hay một ngày để nói chuyện cho cả nhà nghe thế nào về một Quê Hương hiện tại của chúng ta…

Giờ để anh kể cho cả nhà nghe chuyện mà báo Công an vừa mới đăng. Có một chị nhà ở khu Hàng Xanh, đang đêm nằm ngủ bị viên đạn 12 ly 7 rơi và ghim vào cổ, phá nát cuống họng ra, khi người chồng chở vợ vào bịnh viện cứu cấp thì được bảo là phải giải phẫu Tai thì mới cứu được. Nhưng muốn giải phẫu thì phải có tiền, thế là anh về bán vội căn nhà lá để lấy 3 chỉ vàng đến bịnh viện mổ cứu cấp cho vợ. Vì vết thương quá nặng, và phải qua nhiều phẫu thuật, nên 3 chỉ vàng đã hết sạch mà vẫn cần phải mổ tiếp, thế là gia đình Bố Mẹ anh lại phải bán tiếp căn nhà tồi tàn của họ, nơi đang làm chỗ trú thân cho 8 người trong gia đình để lấy thêm 5,6 chỉ vàng nữa hầu trả chi phí bịnh viện, để cứu nạn nhân.

Qua câu chuyện trên đây, để có thể cứu sống một người thì cả chục người khác phải ra lề đường, ra chợ mà sống lay lất, liệu có tốt đẹp và nhân đạo không?… Bởi thế cho nên vừa qua nhận được thư các em, anh rất cám ơn các em đã viết thư cho anh nói rõ mọi sự, tuy rằng những điều ấy anh đã nghĩ đến, những tủi nhục đắng cay ai mà chẳng chịu qua khi bước vào đời. Mà càng rõ nét hơn khi mình mang thân phận của người mới nhập cư, ngôn ngữ bất đồng, không cùng một nền văn hoá… tất cả những điều ấy, ngay cả nếu đừng có ngày 30/4, các em hẳn cũng phải chịu qua như các em vừa từ một tỉnh lẻ bước chân đến “Thủ đô Sài Gòn” để sinh sống vậy. Chính những cái phân biệt khó khăn ấy, dần dần nó mới là động lực để xã hội dần tiến lên trình độ cao hơn. Còn hơn là xuề xoà, bao che, san bằng lẫn nhau để rồi cả một dân tộc cứ ngụp chìm trong sự nghèo đói, mê muội và dốt nát….”

Lá thư đó cứ vướng víu trong tôi từ khi nhận được thư cho đến giờ, rồi tin buồn của gia đình chồng đến muộn từ VN, tin gia đình cô em chồng bị phái đoàn Cao-uỷ từ chối vì đã đến đảo sau ngày 28/4, ngày đóng cửa các trại tỵ nạn… Tôi không còn cảm thấy ăn ngon, ngủ yên, trong tôi lúc nào cũng bâng khuâng, day dứt… Quê Hương tôi sao lắm thảm kịch quá vậy hở trời? – Đất nước tôi bé nhỏ hiền hoà sao lắm phong ba bão tố? – Sau chiến tranh, sau một cuộc chiến dài đăng đẳng 30 năm trời, đất nước tôi còn lại gì? chỉ còn lại những đau đớn, thê thảm như trong thư Chúc viết?. Một lá thư viết ngay tại “Thủ Đô Sài Gòn”, nơi đã một thời vang danh “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Đó là thư của một người còn tỉnh táo, còn lý trí, còn đủ ăn, đủ mặc mà còn chua chát như thế thì thử hỏi ở những vùng thôn quê hẻo lánh, sự khó khăn, sự nghèo đói, sự bất công sẽ đến với người dân khủng khiếp như thế nào?…

Sau cuộc chiến, không là hoà bình, không là nụ cười, không là hạnh phúc mà chỉ là nước mắt phân-ly, nước mắt người đi, kẻ ở, để hàng ngàn người làm mồi cho thú dữ trong rừng sâu, hàng vạn người lén lút bỏ nước ra đi để đánh đu với hiểm nghèo sóng to, biển lớn, để một số vùi sâu trong lòng đại dương, một số nào đó ngắc ngoải với những thảm trạng hải tặc.

Ôi bức tranh thảm khốc của nước tôi, của nhân loại có một không hai trong thế kỷ loài người. Ai là kẻ đã gây nên cảnh tang thương ngày hôm nay? Ai?…Ai? và Ai?… Hãy trả lời tôi, hãy đưa tôi ra khỏi vùng sương mù vây kín, bởi những dằn vặt, những khắc khoải về thân phận con người, những con người của dân tôi, Quê tôi. “Qua cơn bỉ cực tới hồi thái lai…”

Dân nước tôi đã trải qua biết bao nhiêu năm dài bỉ cực, khổ đau, sao vẫn chưa đến lúc hạnh phúc yên vui?… Những người tha-phương khắp chân trời xứ lạ, có một phút nào đó khắc khoải dày vò như tôi? hay chỉ riêng tôi nơi này với một niềm đau không lối thoát, một ấm ức không vơi nguôi?…

Tết sắp đến, mùa xuân sắp về, nhưng không về trong tôi lúc này, mùa xuân về ở một nơi nào đó, một nơi tôi không biết đến, vì trước mắt tôi, tôi chỉ thấy một Việt Nam bé nhỏ khiêm nhường trên bản đồ thế giới. Một Viêt Nam đang quằn quại khổ đau dưới gông cùm CS. Một Việt Nam với những con người ly hương đang sống thất thểu trên khắp dịa cầu… Tết sắp đến, Xuân sắp về, dù không về trong lòng tôi, không về trong lòng Anh, không về kể cả trong lòng Chị, lòng Em… nhưng tôi xin được cùng Anh, xin được cùng với Chị, cùng với mọi nguòi thắp cao Ngọn Lửa Việt Nam, soi sáng khắp địa cầu để chúng ta cùng nhau nhất quyết trở về, gầy dựng lại một VN đổi mới, một VN sáng ngời, yên vui và hạnh phúc.

Nguyenthitehat
(Xuân 1991)

Thảo luận cho bài: "Việt Nam! – Quê Hương Tôi"