Vợ tế chồng

Tác giả:

Hỡi thương ơi!
Con thơ vợ dại, sống càng thương mà chết lại càng thương;
Cửa vắng nhà thanh, nghĩ cũng khổ mà nói ra cũng khổ.

Cầu trời cầu Phật, nào thiếu cầu đâu;
Tại thuốc tại thầy, hay là tại số.

Nhớ chàng xưa:
Cháu giống con dòng;
Người kim chất cổ.

Tự mười tám trăng màn bảo trẻ, chi hồ giả dã, chữ đủ làm thầy;
Tới bốn ba lều chiếu quan trường, tí ngọ mùi thân, thi sao chưa đỗ.

Trừ ông cử ông tú ông đò chi ngoại, phường ngựa xe điếu tráp ít chơi;
Lấy câu văn câu thơ câu phú làm vui, thú cờ bạc rượu chè chẳng mộ.

Cũng tưởng làm nên quan lớn, toan sự biển cờ cướp lấy, ông Từ ô cũng chốn anh em;
Nào ngờ già dễ văn hay, làm cho thợ tạo chết tươi, ông Tiền hải cũng trong môn hộ.

Tưởng sự cửa nhà;
Thêm tình quyến cố.

Như chú hai đã có em phụng dưỡng, thôi cũng yên lòng;
Nọ thím năm đang lập cửa thừa diên, nhưng chưa xong số.

Mẹ thiếp cũng già đà lẫn cẫn, phố là làng con là rể, ai kẻ trông nom;
Con chàng còn dại dại ngây ngây, thằng mười bốn đứa lên ba, ai vì dạy dỗ.

Gần đã đến mùng năm đoan ngọ, đào đào mận mận, cũng có của ngon vật lạ, chàng đà đi thiếp cũng chán chường;
Xa là tháng tám trung thu, ngựa ngựa voi voi, những là tán giấy đèn cù, cha chẳng ở con nào vui cỗ.

Thương ôi!
Bối rối lòng quê;
Vội vàng tục phố.

Lờ mờ đen tỏ một huê;
Xơ xác quyển vàng vài bộ.

Nghĩ đến họ đến hàng đến làng đến nước, thì trước cửa Diêm vương ngơ ngẩn, chắc chàng chưa ăn cháo tái sinh;
Nghĩ có trai có gái có rể có dâu, thì trên lầu Thị Kính thề nguyền, quyết thiếp chỉ ôm cầm một độ.

Xin giữ đủ ba năm một tiết, tuần tứ cửu ngày bách nhật, khi giỗ đầu lúc giỗ hết, dưới suối vàng ai hỡi xét xoi;
Gọi là một chén tam ngu, lá vàng giấy nén hương thơm, lưng cơm bạc bát canh suông, trên dương thế lấy gì báo bổ.

Hỡi ơi! Thượng hưởng!
Nguồn: Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004

Thảo luận cho bài: "Vợ tế chồng"