Vườn thượng uyển ở cố đô

Tác giả:

Trong 143 năm (1802-1945) trị vì, triều Nguyễn đã xây dựng ở kinh đô Huế rất nhiều vườn thượng uyển. Cho đến nay, một số vườn chỉ còn lại dấu tích và một vườn vẫn còn nguyên vẹn tuy hoang phế, đó là Tịnh Tâm. Vẻ đẹp của những khu vườn ấy vẫn lưu lại mãi mãi trong những bài thơ của các vị vua triều Nguyễn.

Cố đô Huế 

Thượng uyển (ngự uyển) là những khu vườn kiến trúc tuyệt đẹp là nơi vua, quan triều đình dạo chơi, buông câu, đọc sách, ngâm thơ… sau những giờ làm việc. Du khách đến Huế thường băn khoăn không biết vườn thượng uyển ở đâu! Sử sách cho hay, dưới triều Nguyễn kéo dài 143 năm (1802-1945) đã xây dựng rất nhiều vườn thượng uyển, và cho đến nay một số vườn còn dấu tích và một trong những vườn ấy vẫn còn nguyên vẹn trên thực địa!Theo sách “Thần kinh nhị thập cảnh – Tập thơ của Vua Thiệu Trị”, trong 20 bài thơ nhà vua vịnh 20 thắng cảnh nổi tiếng của Kinh thành Huế xưa, có tới bảy bài vịnh các vườn thượng uyển. Các bài thơ này được thể hiện trên tranh gương đóng khung thếp vàng treo trong cung điện. Hiện nay một trong những bức tranh gương đó vẫn còn. Đọc thơ cách đây hơn 150 năm ta có thể hình dung về các vườn thượng uyển đẹp nhất kinh đô đã được miêu tả.

Vườn Thiệu Phương, một vườn thượng uyển xây dựng năm 1828 (Minh Mạng) ở trong Tử Cấm Thành. Bài thơ thất ngôn bát cú vịnh vườn này được khắc tranh gương thơ còn may mắn sót lại, hiện vẫn còn lưu giữ trong Bảo tàng Cổ vật Huế”.

Vườn rộng mênh mông thắm sắc hoa Bao năm hương ngát gió đưa xa. Lan vươn dáng khỏe sen tròn trịa Cúc nép thân thon mai mặn mà…

Theo sử sách, khu vườn này có tường gạch bao quanh. Chính giữa là những hồi lang có mái lợp ngói hoàng lưu ly rất độc đáo dẫn ra bốn phía, nối tiếp mãi với nhau theo hình chữ vạn. Trong vườn có hai ngôi đình và hai hiên lãm ở bốn góc, có hai lạch nước tên là Ngự Câu, có hòn giả sơn Trích Thúy Sơn. Năm 1841, dưới thời vua Thiệu Trị, vườn Thiệu Phương được đầu tư sửa sang. Phía tây có thêm điện Hoàng Phúc thêm nhiều đình tạ để vua câu cá và hóng mát. Đến nay, dấu tích còn lại duy nhất của khu vườn thượng uyển này là chiếc cổng ở trong Đại Nội, trên cổng vẫn còn dòng chữ lớn: “Ngự chế – Thiệu Phương viên môn, Minh Mạng cửu niên cát nhật tạo”.

Một ngôi nhà vườn ở Huế

Vườn Thư Quang được mô tả trong bài thơ Thư Uyển Xuân Quang (Nắng xuân vườn Thư Quang) là một trong những vườn ngự uyển, tráng lệ, nổi tiếng được xây dựng vào năm 1836 (Minh Mạng) phía bắc Hoàng Thành (thuộc phường Thuận Thành bây giờ). Vườn có chu vi nửa cây số, có sáu cửa ra vào, có nhiều điện lầu gác, đình tạ, nhiều cầu có mái, vườn hoa, hồ nước, chim cây… Thơ vua Thiệu Trị viết thật đẹp, thật lung linh về vườn này:Rực mầu phong cảnh như châu ngọc Lộng ảnh ao hồ tựa gấm sa

Vườn Ngự Viên là cảnh đẹp thứ năm được vua Thiệu Trị ca ngợi qua bài thơ Ngự Viên đắc nguyệt (Ngự Viên ngắm trăng):

Thâm nghiêm cung cấm giữa canh khuya Trong vắt ao thu trăng nước hòa Liền dải lâu đài in lóng lánh Sáng ngời hoa thụ rực nguy nga.

Vườn Ngự Viên được xây dựng năm 1821, ở góc đông bắc Tử Cấm Thành. Dấu vết hiện vẫn còn là Hồ Ngọc Dịch, Tiểu Ngự Hà và một số hòn giả sơn ở khu nhà lầu Ngự Tiền Văn phòng (thời Bảo Đại) Trong Hoàng Thành thời Minh Mạng ở đông bắc có hồ Nội Kim Thủy. Giữa hồ có đảo Doanh Châu được xây dựng thành một vườn thượng uyển với kiến trúc cầu kỳ gồm hệ thống gác, đình, lầu, thủy tạ, hiên lãm… với các hòn giả sơn, tre, sen, mai, trúc, cúc. Đây là nơi các vua Nguyễn thường ra dạo chơi, hóng mát, đề thơ vịnh cảnh. Trên đảo Doanh Châu này, đẹp nhất là gác Hải – Tịnh Niên Phong (sóng lặng mùa no). Vua Thiệu Trị xếp gác này vào Thần Kinh nhị thập cảnh và có bài thơ Cao Các Sinh Lương vịnh gác này. Bây giờ hồ Nội Kim Thủy vẫn còn các đảo mọc đầy cây cối cỏ dại. Cũng vào thời Minh Mạng, Thiệu Trị, một hoa viên nữa được ca ngợi hết lời là Cung Trường Ninh với hệ thống lầu điện nguy nga, hồ nước, vườn cây hoa thâm u, có núi Bảo Sơn, Kình Ngự, có lạch Đào Nguyên như bồng lai tiên cảnh. Cung Trường Ninh cũng được vua Thiệu Trị đề thơ:

Thảo luận cho bài: "Vườn thượng uyển ở cố đô"