Xứ Lào: Đất và Người

Tác giả:

2. Lược Sử


Lược sử xứ Lào
 
Từ xa xưa, đất Lào đã là ngã tư giao thông, chốn dừng chân, nơi lưu trú của nhiều giống dân, nhiều bộ tộc khác nhau. Giống dân hiện diện xưa nhất nơi đây,theo sử sách, là các bộ tộc mà người ta phỏng đoán và gọi chung tên là sắc tộc gốc Nam Dương, ngôn ngữ gốc Môn-khmer. Hiện nay, rải rác từ Bắc chí Nam nước Lào giống dân nầy vẫn còn mà người Lào, người Xiêm gọi chung là giống Khạ ( mọi rợ ) hay Lao Thơng như người Việt gọi chung các sắc tộc thiểu số trên đất Việt là người Thượng. Đã đành là " Khạ " nhưng cũng có rất nhiều giống " Khạ " : Phu Thay, Phu Theng, Khà-mú, Phuôn, Lamet, Bô, Sô, Sek, Kattang … (1)
 
Khi người Khmer lấn chiếm toàn cõi tả và hữu ngạn lưu vực sông Mêkông, cưỡng bức xua đuổi các bộ lạc " Khạ " bồng bế nhau chạy lên các vùng núi rừng, nới rộng thêm đế quốc Khmer qua một phần rộng lớn đất Lào ngày nay trong nhiều thế kỷ : Phật giáo khởi có mặt trên đất Lào từ đó, vào khoảng thế kỷ VI – VIII.
 
Đến thế kỷ thứ XI, qua ngã Mương Then (Điện Biên Phủ) và các thung lũng vùng hà khẩu Nam U, Nam Sương, các sắc tộc Thái (tục gọi Lao Xúng) từ Vân Nam di cư xuống lưu vực sông Mêkông, giao hảo, buôn bán với đế quốc Khmer. Sau đó, trong các sắc tộc Thái đó có một giống Lào tự lập một hầu quốc (Principauté) ở ngã ba sông Khan, quốc hiệu là Mương Xua, kinh đô là Xiêng Đôồng-Xiêng Thoong (LuangPrabang ngày nay), một giống khác là Lao Phươn lập quốc miệt đồng bằng Xiêng Khoáng, cả hai thần phục và chịu ảnh hưởng văn minh đế quốc Angkor. Qua thế kỷ thứ XIV, một hoàng tử Lào ( Chao) tên Fa Ngum, con út của Chao Phi Fa, khi được sinh ra ( 1316) đã có dị tướng : 33 cái răng, hoàng tộc cho là điềm gở, ép lưu vong qua đất Angkor từ nhỏ, năm 16 tuổi kết hôn với một vị công nương trong hoàng gia Khmer tên Nang Keo KingKanya. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của đế quốc Angkor, hoàng tử Fa Ngum mang quân về, trước đánh chiếm các hầu quốc khác như Champassak (Nam Lào ngày nay), lần lần lên Xiêng Khoáng và cuối cùng vào năm 1353, Fa Ngum tiến quân vào kinh đô Xiêng Đôồng-Xiêng Thoong, chấm dứt triều Mương Xua. Fa Ngum lập nên Vương Quốc Lản Xảng (Vương Quốc Triệu Thớt Voi), lấy tượng Phật Prabang (đúc bằng đồng, cao 83 phân tây, nặng 434 kí-lô) đem về từ đất Angkor làm bảo vật trấn quốc và đổi tên kinh đô Xiêng Đôồng Xiêng Thoong thành đế đô Luang Prabang.
 
Quốc vương Fa Ngum là một vị vua tài giỏi, văn võ song toàn và … độc tài : Nới rộng xứ Lản Xảng qua đất Khorat, khi chinh phạt khi chống cự triền miên với các vùng như Ayutthaya, Soukhothay (Thái Lan). Ông là người tổ chức quân đội nghiêm túc, đặc biệt đặt ra nền hành chính còn ảnh hưởng đến ngày nay, đơn cử chức quyền như Chao Mương ( lãnh chúa thời đó), Chao Khoéng ( tỉnh trưởng ngày nay)… Sau Fa Ngum bị hoàng triều lật đổ vào năm 1373, lập con trai trưởng ông là Oun Hươn Samsenthay lên kế vị. Vua Fa Ngum mất tại Mương Nan năm 1373 ( có sách ghi ông bị phế năm 1393 và mất năm năm sau). Phật giáo hệ tiểu thừa (Theravada) bắt đầu có mặt trên đất Lào vào thời nầy, năm 1356. Theo văn kiện lịch sử Lào, Khun Bu Lôm là thánh tổ dân tộc Lào, Fa Ngum là quốc tổ Xứ Triệu Thớt Voi . (2)
 
Chao Oun Hươn chọn vương hiệu sà Samsenthay vì, năm 1376, ông là người đầu tiên làm kiểm tra dân số Lào được Ba Trăm Ngàn Dân (sám sén thay). Ông là một vị vua hiền, khôn khéo trong chính trị.
 
Samsenthay mất đi, con trai là Lan Khamđeng lên thay, xứ Lào liền bị xáo trộn, tình trạng tương tự Thập Nhị Sứ Quân ở nước ta nhưng kéo dài, dài mãi và là nguyên nhân của một nước Lào chia cắt, suy yếu cho tới ngày nay.
 
Từ năm lật đổ quốc vương Fa Ngum (1373), qua triều Samsenthay đến cuối thế kỷ XVI, quốc gia Lào trải qua nhiều biến loạn : Năm 1527 vua Phothisarat, con vua Visounnarat, vốn mộ đạo Phật, ra pháp lệnh cấm tín ngưỡng đa thần giáo (Linh Hồn Giáo – Animiste) và niềm tin vào Phí (ma quỉ) của các bộ tộc miền núi, gây xung đột dữ dội ; nội chiến giữa các vương hầu, ngoại xâm từ Miến Điện, Việt Nam, Trung Hoa. Xin nói thêm : Theo Trần Trọng Kim trong VN Sử Lược cuốn 2, trang 17 : < khi Mạc Đăng Dung làm sự thoán đoạt (cướp ngôi nhà Lê năm 1527) thì các quan cựu thần trốn tránh đi cũng nhiều. Thuở ấy có người con ông Nguyễn Hoằng Dụ tên là Nguyễn Kim hay Nguyễn Hoằng Kim làm quan Hữu Vệ Điện Tiền Tướng Quân An Thành Hầu trốn sang Lào. Vua nước ấy là Xạ Đẩu ( tức Phothisarat, trị vì từ 1520 – 1547) cho đến ở xứ Sầm Châu ( tức Trấn Man Phủ, Thanh Hoá). Ông Nguyễn Kim đến Sầm Châu rồi cho người đi tìm con cháu nhà Lê để đồ sự khôi phục. Đến năm Quí Tị (1532) tìm được một người con rốt vua Chiêu Tông tên là Duy Ninh, lập lên làm vua, tức là Trang Tông >. Nhờ đó vua Trang Tông và Nguyễn Kim chiếm lại được Thanh Hoá, Nghệ an (1542) và đất Tây Đô vào năm 1543 …
 
Năm 1563, vì lý do địa lý chính trị (Géo-politique) đối với các vương hầu phía Nam và để tránh sự dòm ngó đặc biệt của Miến Điện, quốc vương Setthathirat thiên đô xuống Vientiane ( cách Luang Prabang 210 cs), ở vào khoảng giữa hai miền Nam và Bắc Lào, mang theo tượng Phật bằng ngọc bích Phra Keo (cao 70 phân tây), cho xây ngôi chùa ( Vặt) Phra Keo để an vị tượng Phật đó, đồng thời dựng đại tháp That Luang (ngày nay) lưu giữ xá lợi là Một Sợi Tóc ( hay một đốt xương ?) của Đức Phật. Vua Setthathirat băng hà trong một cuộc thân chinh dẹp loạn " Khạ " ở phía Nam (1571), mở đầu thời kỳ hổn quan, hổn quân rồi vô chính phủ của nước Lào mãi đến tiền bán thế kỷ XVII mới được tái lập sự ổn định dưới triều vua Sourigna Vongsa (vua mặt trời).
 
Sourigna Vongsa là một đại vương của nước Lào. Ông là vị vua hiền, trị vì hơn 50 năm ( 1637 – 1694), trên phương diện đối nội ông là người có công lớn trong việc thống nhất và giữ được sự ổn định trong nước Lản Xảng lâu nhất ; phần đối ngoại ông là người mở đầu sự giao hảo với Âu Châu : Người Hoà Lan đầu tiên đến xứ Lản Xảng, năm 1641, là ông Gerrit Van Wusthof, sứ thần của toàn quyền thuộc địa quần đảo Nam Dương ( Java, thuộc Hoà Lan). Dưới triều đại ông, Vientiane là trung tâm Phật giáo nơi sư sải các nước Khmer, Phù Nam hay Xiêm (Thái Lan) đến tu học. Cũng chính ông là người đã ký kết với Việt Nam (3) một hiệp ước phân định dân số như sau : Gia đình nào ở nhà sàn, có mái hiên sẽ được coi như là thần dân của Vientiane ; gia đình nào ở nhà trệt, không có hiên sẽ thuộc Việt Nam ( thời Trịnh – Nguyễn phân tranh).
 
Qua thời bình trị của triều Sourigna Vongsa (mất năm 1694), nước Lào lại bị chia ra làm ba vương triều : Luang Prabang, Vientiane và Champassak, cọng thêm loạn lạc, tranh đất giành dân vô cùng ta thán mà Việt Nam ta dưới thời các Chúa Nguyễn can dự không ít : Miến Điện dưới triều vua Alompra xâm lấn, cướp phá LuangPrabang năm 1753. Năm 1771, Vientiane bị LuangPrabang (với hậu thuẩn của Xiêm La) khởi binh đánh úp, phải cầu viện với Miến Điện : LuangPrabang thêm một lần nữa bị Miến Điện tàn phá. Năm 1778, quân Xiêm qua bạo chiếm, tàn phá Vientiane, áp đặt triều đình Vientiane dưới sự điều hành trực tiếp của họ trong 4 năm. Vào thời kỳ nầy Xiêm bắt một số người Lào và đã cướp đoạt nhiều bảo vật, trong đó có tượng Phật Phrakeo của Lào mang vể nước. Ngày nay bức tượng bằng ngọc bích nầy là vưu vật trấn quốc của Thái Lan. Nghe nói để bức tượng khỏi bay trở lại Lào, người Thái đã yếm vị tượng bằng dây xích vàng ròng trong ngôi chùa ở Bangkok cũng mang tên là Wat Phrakeo. Triều đình Xiêm La còn nhiều lần trực tiếp qua xâm lấn, đánh cướp nước Lào mãi cho đến thời thực dân da trắng chính thức đặt chân lên Đông Nam Á từ thế kỷ XIX, họ mới dùng mưu mô thủ đoạn chính trị để chiếm đất cướp dân của Lào vào năm 1941.
 
Còn tiếp
Kỳ tới: Xứ Lào và thực dân Pháp
 
Chú thích:
 
(1) Tháng 8 năm 2000, Ủy Ban Các Bộ Tộc thuộc Quốc Hội Lào (La Commission des Ethnies de l'Assemblée Nationale Lao) đã tạm tổng kết được 49 bộ tộc chính, chia thành 4 nhóm căn cứ theo nhân chủng ngôn ngữ học:
 
A/ Nhóm Lào-Thái gồm 8 bộ tộc : 1. Lào, 2. Phuthay, 3. Thái, 4. Lự, 5. Nhuôn, 6. Dung, 7. Sek và 8. Thay neua ( Thái miền Bắc).
 
B/ Nhóm Môn-khmer gồm 31 bộ tộc : 1. Kh'mu, 2. Pray, 3. Sing-mu, 4. Khóm, 5. Then, 6. I-đu, 7. Bi, 8. La-mệc, 9. Sam-tao, 10. Ka-tang, 11. Ma-kong, 12. Try, 13. Triêng, 14. Tà-oi, 15. Yê, 16. Brao, 17. Ha-rắc, 18. Ka-tou, 19. Oi, 20. Kriêng, 21. Gia-ru, 22. Ye, 23. Suai, 24. Nha-hươn, 25. La-vy, 26. Kạp-ke, 27. Khmer, 28. Tum, 29. Nguồn, 30. Mươn và 31. Kri.
 
C/ Nhóm Hoa-Tạng gồm 8 bộ tộc : 1. A-kha, 2. Sing, 3. Sa-li, 4. La-u, 5. Si-la, 6. A-di, 7. Lôlô, và 8. O.
 
D/ Nhóm H'mông-Miêng gồm 2 bộ tộc : 1. Hmông (Miêu) và 2. Miêng (Dao)
 
49 bộ tộc nầy lại được phân thành ba nhóm theo địa dư cư trú: 1. Lao Lùm ( người Lào vùng đồng bằng) , 2. Lao Thơng ( người Lào vùng cao nguyên ) , và 3. Lao Xúng ( người Lào vùng cao (núi).
 
Người Việt bên Lào sinh sống chủ yếu ở các tỉnh lớn như Vientiane, Savannakhet, Paksé … Người Việt chưa nhập Lào tịch, năm 2004, gồm có 89.300 người, đứng thứ mười theo bảng sắp hạng nhóm người hiện diện nơi đây :
 
1.Lào: 1.800.000 người , 2. Kh'mou: 506.250 người , 3. H'mông Dao: 191.000 người , 4. H'mông Njua: 163.800 người , 5. Phu Thay: 150.400 người , 6. Lự: 134.100 người , 7. Phuôn: 112.800 người , 8. Ka-tang: 107.350 người , 9. Mangkoong: 103.860 người và 10. Việt: 89.300 người.
 
Sau 1975, người Việt (cũ) nhập quốc tịch Lào rất đông nhưng cho tới nay chưa có bản thống kê chính thức nào về việc nầy.(đón đọc " Người Việt Trên Đất Lào")
 
Người Tàu được sắp thứ 24 với 21.350 người.
 
 
(2) Thời học trung học Pháp, Lycée de Savannakhet, hầu hết học sinh người việt hay gốc việt chỉ chọn tiếng Anh làm sinh ngữ. Tôi là một trong vài bạn học người việt chịu thương, chịu khó học thêm chương trình Lào. Chương trình lịch sử Lào, lược từ sách Phongsavadan Lao của Maha Sila Viravong, được bắt đầu từ thời Chao Fa Ngum trở về sau. Phần Thánh Tổ Khun Bu Lôm chỉ được phớt nhẹ qua. Sau nầy truy cứu tôi mới hiểu tại sao : Trước, Bộ Quốc Gia Giáo Dục VQ Lào và nay, CHDCND Lào, chưa thống nhất được huyền sử nước Lào vì ít ra cũng có tới 5 ấn bản khác nhau về lịch sử tiền Fa Ngum. Nithan Khun Bu Lôm là một huyền sử của Lào tương tự huyền thoại Con Rồng Cháu Tiên của người việt nam.
 
Đề nghị bạn đọc nên xem thêm cuốn " Les origines du Laos " của ông Võ Thu Tịnh, nghiên cứu lịch sử Lào từ khởi thủy cho đến thời Fa Ngum đăng quang, sách hiện có bán tại nhà sách Sud Est Asie, Paris 5 ; hay tham khảo cuốn " Histoires du Laos Français " của Paul Le Boulanger tại thư viện của bảo tàng Guimet, 6 Place d' Iéna, Paris 16.
 
(3) Theo Le Viet Nam của ông Lê Thành Khôi dẫn từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì xứ Lào bắt đầu đi lại, can qua với Việt Nam từ thế kỷ XIV, thời vua Trần Minh Tông ; theo Việt Nam Sử Lược của ông Trần Trọng Kim thì sớm hơn chút, từ thời vua Lý Thái Tông, 1028 – 1054. Còn theo sử Trung Hoa thì lâu hơn nhiều : Từ thời Mai Hắc Đế, năm 722 d.l. nhằm nhà Đường (618 – 907).
 
Hàn Lệ Nhân

Thảo luận cho bài: "Xứ Lào: Đất và Người"