Xứ Lào: Đất và Người

Tác giả:

4. Xứ Lào Và Xã Hội Chủ Nghĩa


Quốc vương Sisavang Vong băng hà năm 1959. Đông Cung Thái Tử Sisavang Vatthana lên kế vị. Nội các Sananikone – Nosavan chủ trương nền chính trị bài cộng triệt để, công khai chống Bắc Việt. Ngày 9 tháng 8 năm 1960, đại úy Kong Le đuợc sự hậu thuẩn của quân đội trung lập làm một cuộc đảo chánh chớp nhoáng, trả quyền thủ tướng lại cho Souvanna Phouma, kỳ vọng vào ông nầy để giải trừ cuộc chiến dân sự. Nhưng phe hữu bảo thủ yểm trợ bởi Thái Lan và Hoa Kỳ, đưa quân từ Savannakhet về chiếm Vientiane, lập chính phủ Boun Oum nhằm tháng 12 cùng năm. Trong lúc đó chính phủ Souvanna Phouma lại được Neo Lao Haksat, Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Cộng, Bắc Việt và nhiều quốc gia khác ủng hộ. Qua năm 1961 / 1962, dưới áp lực quốc tế tại Vienne ( thực chất là hiệp ước Nga – Mỹ), buộc Lào tái lập chính phủ trung lập trong thế chân vạc: Souvanna Phouma – Souphanouvong – Boun Oum. Thế chân vạc đứng chẳng được bao tháng thì lại bị phe hữu lật nhào ngày 19/04/1964, dẹp hết mọi thương thuyết, chủ ý loại phe tả cho rộng đường trở lại chính thể chống cộng và chống Bắc Việt Nam. Lần nầy Mỹ trực tiếp nhúng tay vào với dụng ý dùng Lào làm áp lực với Hà Nội, đồng thời diệt Mặt Trận Yêu Nước Lào vì cái " tội " đã bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh cho Hà Nội tiếp vận quân Bắc Việt trong Nam Việt Nam. Trong cảnh ngộ khó khăn nầy, phe trung lập của Souvanna Phouma yếu dần lại chia rẽ nên một số đã ngã theo Neo Lao, một số khác ngã theo phe hoàng gia tức phe hữu bảo thủ. Từ đây cuộc chiến quốc-cộng và kết quả bi thảm của nó tại Việt Nam, qua sự lèo lái của bộ ba Nga-Tàu-Mỹ, dù muốn dù không, cũng dính liền với cuộc tương tàn tại Lào, đặc biệt chiến dịch Hạ Lào hay Lam Sơn 719 ( tháng 2 và 3 năm 1971) của Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà.

Hiệp định Paris về vấn đề Viêt Nam ngày 27/01/1973 ảnh hưởng tức thời đến tình hình Lào: Ngày 12/02/1973 một thoả thuận đình chiến tại chỗ giữa các phe đã được ký kết, chấm dứt cuộc oanh tạc của Mỹ trên đường mòn Hồ Chí Minh, mọi lực lượng quân sự ngoại quốc phải rời khỏi đất Lào… đưa đến việc tái lập, một lẩn nữa, chính phủ liên hiệp và cùng lúc lập một Hội Đồng Chính Trị Tư Nghị Quốc Gia (Conseil Politique Nationale Consultatif, tương tự một Quốc Hội lâm thời) ngày 14/09/1973. Ngày 03/04/1974, hoàng thân Souphanouvong trở về Vientiane đảm nhiệm quyền chủ tịch Hội Đồng Chính Trị Quốc Gia ( Conseil National Politique). Ngày 05/04/1974, hoàng thân Souvanna Phouma lập một " chính phủ lâm thời thống nhất quốc gia." Hoà Bình có vẻ đã được vãn hồi … nhưng hỡi ôi! Tất cả những gì nhân dân Lào thấy tận mắt, nghe tận tai như Hội Đồng nầy, Chính Phủ nọ đều chỉ là thủ thuật từng giai đoạn của Pathet Lao, mặt sáng của Đảng Cách Mạng Nhân Dân Lào tức Đảng Cộng Sản Lào, được thành lập từ năm … 1955, và tổng bí thư không phải hoàng thân Souphanouvong mà là Kaysone Phomvihane ! Sự thật nầy giống hệt sự thật Mặt Trận Giải Phóng Miền năm sau 30/04/1975 ở Việt Nam Tuy nhiên, Lào là nước duy nhất trong ba nước Đông Dương " được " giải phóng bằng chính trị.

Cuộc giải phóng nước Lào tuy không đẩm máu như cuộc giải phóng ở Việt Nam và Kampuchia nhưng cũng tạo nên nhiều hổn loạn tâm lý cho phe hữu trong chính quyền, các viên chức trong quân đội trung lập … thậm chí gần nửa triệu người từ Lào (1) đến phải bỏ của chạy lấy người bằng cách qua sông xin tị nạn chính trị trên đất Thái, rồi rải rác khắp thế giới. Cộng đồng người Lào hải ngoại thành hình từ đó.

Phong trào bỏ xứ Lào ra đi chỉ hoàn toàn ngưng từ 1989, sau khi chính phủ Lào hũy bỏ chính sách hợp tác xã, bao cấp …, mở cửa và theo gương Việt Nam, áp dụng mô hình kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường nhưng vẫn độc quyền chính trị.

Khống chế toàn xứ Lào bằng chính trị rồi, ngày 29/11/1975, ĐCS của Kaysone Phomvihane buộc quốc vương Sisavang Vatthana thoái vị ở Luang Prabang. Ngày 1 và 2 tháng 12 năm 1975, qua màn kịch mệnh danh Đại Hội Quốc Gia bất thường, họ biểu quyết hũy bỏ nền quân chủ Lào và tuyên bố thành lập Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào do Souphanouvong (1909-1995) làm " chủ tịch " và cựu vương Sisavang Vatthana làm " cố vấn tối cao " (2) ; chính phủ lâm thời thống nhất quốc gia " tự động từ chức ", thay vào đó là một chính phủ cách mạng do Kaysone Phomvihane (1920-1992) làm thủ tướng với " cố vấn " Souvanna Phouma (1901-1984), đặc biệt với sự " giúp đỡ tận tình và toàn diện " của quốc gia XHCN Việt Nam, tình ngoài là đồng chí, tình trong là " người chăn chiên và con chiên ". Từ 1975 đến 1988, XHCN Việt Nam đưa qua và rút về 55 ngàn quân đóng trên đất Lào. Từ 1976 đến 1988 Lào và Thái 2 lần đụng độ đẫm máu vì vấn đề biên giới ( 1893?, 1941 ?): 1981 và 1988.

Hệ thống chính trị nước CHDCND Lào:

Đảng Cách Mạng Nhân Dân Lào là chính đảng duy nhất. Người đứng đầu nhà nước là Chủ tịch nước được Quốc hội cử ra có nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Chính phủ được Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội thông qua. Đường lối chính sách của chính phủ do Đảng lãnh đạo thông qua 9 ủy viên Bộ chính trị và 49 ủy viên Trung ương đảng. Các quyết sách quan trọng của chính phủ được " biểu quyết " bởi Hội đồng bộ trưởng.

Lào thông qua hiến pháp mới năm 1991. Trong năm sau đó đã diễn ra bầu cử Quốc hội với 85 đại biểu. Các thành viên quốc hội được " bầu bằng bỏ phiếu kín". Quốc hội do cuộc bầu cử năm 1997 tăng lên thành 99 đại biểu đã thông qua các đạo luật mới mặc dù cơ quan hành pháp vẫn giữ quyền phát hành các sắc lệnh liên quan. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra tháng 2 năm 2002 với 109 đại biểu.

* Hoàng thân Souphanouvong làm chủ tịch nước CHDCND Lào đến năm 1986 thì " từ chức vì lý do sức khoẻ ", Phoumi Vongvichit (1909-1992) lên thay.

* Kaysone Phomvihane đắc cử chủ tịch nước từ tháng 8/1991, nhường quyền thủ tướng cho cựu bộ trưởng quốc phòng là tướng Khamtay Siphandone ( 1924 – ), với câu nói để đời trong bài diễn văn nhậm chức : Chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu của chúng ta, nhưng là một mục tiêu rất xa vời ".

Hơn một năm sau, Kaysone Phomvihane qua đời, nhằm ngày 21/11/1992.

* Nouhak Phoumsavanh lên thế từ 25/11/1992 đến 1998.

* Tướng Khamtay Siphandone lên nắm quyền lãnh đạo CHDCND Lào từ 1998 cho đến ngày nay (2005).

Nền chính trị trên xứ Lào, sau 1975 cho đến nay, ta có thể hình dung như bản sao hay cái bóng của nền chính trị XHCN Việt Nam : Mở cửa kinh tế nhưng độc quyền chính trị, và hàng năm vẫn được các cơ quan bảo vệ quyền làm người trên thế giới cẩn thận ghi tên lại trong danh sách các quốc gia vi phạm nhân quyền, dân chủ và tự do ngôn luận.

Tiểu sử vài yếu nhân trong ĐCS Lào:

1/ Kaysone Phomvihane (1920-1992):

Sinh ngày 13/12/1920 tại làng NaSêng (Savannakhet), cha tên Louan (Luôn) làm công chức, mẹ tên Đốc làm nghề nông ( theo sách Kaysone Phomvihane : Lục Khoóng Passasôn = Kaysone Phomvihane: Con của Nhân Dân, trang 16 – VT, 1991 ). Từng học luật tại Hà Nội. Ông Kaysone Phomvihane là một trong những lãnh tụ cách mạng lịch sử của Lào:

– Sáng lập viên kiêm Tổng Bí Thư ĐCS Lào từ 1955.
– Sáng lập viên kiêm Tổng Tư Lệnh quân đội nhân dân giải phóng Lào từ 1954 – 1958.
– Thủ tướng CHDCND Lào: 1975-1991.
– Chủ tịch nước CHDCND Lào: 1991-1992

Ông mất tại Vientiane, ngày 21/11/1992, nắm quyền chủ tịch nước vỏn vẹn được hơn một năm, thọ 72 tuổi. Sau khi ông mất, tượng đài ông được tôn tạo khắp xứ Lào.

2/ Phoumi Vongvichit (1909-1994):

Phoumi Vongvichit là lãnh tụ cách mạng Lào vùng Xiêng Khoáng. Sinh ngày 06/04/1909 tại Xiêng Khoáng, cha làm công chức thời Pháp thuộc. Làm tỉnh trưởng Xiêng Khoáng năm 1939, được đìều về Vientiane (1940-1944). Sau khi Lào được Pháp trả lại nền độc lập, ông làm tỉnh trưởng Houa Phanh và theo Lao Issara làm đại biểu nhân dân. Khi chính phủ Lao Issara bị giải thể, ông theo Chao Souphanouvong qua Việt Nam. Sáng lập viên đảng Neo Lao Issara và bộ trưởng nội vụ trong chính phủ kháng chiến đến năm 1954, điều đình viên của mặt trận Pathet Lao, 1954-1955. Đại diện của Neo Lao Haksat trong chính phủ ba thành phần kiêm bộ trưởng tôn giáo và văn hoá… Năm 1986, ông lên nắm quyền lãnh đạo CHDCND Lào, thay Ông Hoàng Đỏ Souphanouvong, và trong đại hội đảng kỳ thứ 5, 1991, ông từ bỏ mọi chức vụ chính trị, về vườn để viết sách. Ông có tiếng là nhà cách mạng có học thức và phật tử thuần thành. Ông mất ngày 07/01/1994, thọ 85 tuổi.

3/ Nouhak Phoumsavanh (1914 – ):

Nouhak Phoumsavanh là lãnh tụ cách mạng miền Trung Lào. Sinh ngày 09/04/1914 tại Moukdahane (Thái Lan). Hành nghề tài xế xe đò, nhờ đó mà dễ bắt liên lạc với các nhà cách mạng đông dương khác. Có tài tổ chức. Ông đã tham gia tổ chức đoạt chính quyền trong ngày giành độc lập. Lãnh tụ mặt trận Lao Issara miền Đông Lào, ông là người tổ chức cuộc triệt thoái sau khi chính phủ lưu vong bị giải thể. Gia nhập ĐCS Đông Dương năm 1950, giữ nhiều chức vụ quan trọng trước và sau 1975. 1992, Kaysone Phomvihane qua đời, ông được đề cữ nắm chức vụ chủ tịch nước CHDCND Lào, đến 1998 thì tướng Khamtay Siphandone lên thay.

4/ Khamtay Siphandone ( 1924 – ):

Tướng Khamtay Siphandone sinh ngày 08/02/1924 tại lãnh địa Champassak ( Nam Lào). Nhân viên sở bưu điện trong thế chiến thứ 2, theo mặt trận Lao Issara và gia nhập ĐCS Đông Dương năm 1945 ; tổ chức kháng chiến ở miền Nam Lào (1946) ; làm sĩ quan tùy viên quân sự trong tổng tư lệnh quân đội (1947) … Liên tiếp nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội. Sau 1975, ông là phó thủ tướng tân CHDCND Lào ; quyền thủ tướng năm 1992 và chủ tịch nước CHDCND Lào từ 1998.

THAY LỜI KẾT

Theo lẽ tôi phải viết tiếp phần kinh tế tập trung dưới chế độ CHDCND sau 1975 và kinh tế tư nhân từ 1986 nhưng nhìn chung, công tâm mà nói, nền kinh tế xứ Lào vẫn còn là nền kinh tế hay thị trường tiêu thụ mặc dù CHDCND Lào đã gia nhập ASEAN từ ngày 23/07/1997 và đang vận động vào WTO / OMC:

80% dân số sống về canh nông, đồng áng mà mức cung cầu vừa đủ cho nội địa. Công kỹ nghệ hầu như chưa có gì, ngoài điện lực với một khách hàng duy nhất là Thái Lan. Nghề may mặc mới bắt đâu khởi sắc từ mấy năm nay, nhờ nhân công rẻ. Xuất khẩu có cây rừng hay gỗ thô tức chỉ mới ở bước khai thác triệt để thiên nhiên ; hàng thủ công mỹ nghệ …Khoáng sản coi như chỉ mới bắt đầu cho ngoại quốc khai thác ( mõ thiếc gần Vientiane, mõ Lam ngọc – Saphir, và mõ Hồng ngọc – Rubis trong vùng Houai Sai). Ngành du lịch chưa được triển khai đúng mức mặc dù xứ Lào có rất nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều cảnh quan còn nguyên sơ (năm 2000 có 730 ngàn lượt khách). Đầu tư nước ngoài, để thu hút, còn cần nhiều nổ lực, thông thoáng hơn nữa. Thu nhập bình quân năm 2003 ước tính được 330USD / người / năm, so với Việt Nam: 430USD. Ngoại viện từ khắp nơi, chủ yếu là IMF/FMI, là nguồn tài chính quan trọng để cân bằng ngân sách quốc gia. Hầu như mọi mặt hàng tiêu dùng hàng ngày, xứ Lào đều nhập từ Thái Lan hay Việt Nam. Cho tới nay, chuyện mua bán đều được giải quyết bằng tiền mặt, ngân chi phiếu còn xa lạ. Chính phủ không kiểm soát được sự luân lưu của đồng tiền, không nắm được thu chi thật thụ của dân, của con buôn ; của công ty của xí nghiệp ; chuyện thuế khoá lại lỏng lẻ, tùy tiện thì đất nước dựa vào đâu để sớm tự lực ?

Ấy thế mà họ vẫn còn đó, sẽ mãi mãi còn đó; vẫn sống, vẫn bình thản sống, bạn ạ. Quan niệm về ba chữ Sống Hạnh Phúc của các bộ tộc Lào nói chung, do ảnh hưởng của Phật giáo, rất thiền, rất sâu, rất Lào: Bò pền nhắng, phỏ khoam xúc ma chạc chày, nghĩa là không sao cả, vì hạnh phúc đến tự tâm. Bạn nghĩ họ là dân an phận, thủ thường? Cũng không sai nhưng không hoàn toàn đúng đâu, vì họ sẽ bảo: Bò pềnh nhắng > khi ngoại kiều (biết điều) ; ngược lại khi ngoại kiều (quá độ), họ lại rất người tức là sẽ buông thả cho " bồ đề gai " nổi dậy, lúc đó, mệt đa. Do đó, ngày ngày nhìn cảnh ngoại kiều lăng xăng tranh thương, manh mún kèn cựa nhau từng li từng chút trên đất nước họ, theo tôi, người bản xứ lại hồn hậu chất phác lắc đầu độ lượng vì không hiểu mục đích ngoại kiều làm như thế để tìm cái gì …

Nói là nói vậy chứ không bao giờ tôi có ý khuyên bạn tập sống như họ đâu, khó lắm, khó không thể: Tôi sống với họ, nói-viết tương đối rành ngôn ngữ Lào, hấp thụ văn hoá của họ, chịu ảnh hưởng sâu đậm tập quán của họ liên tục trong 23 năm trời mà đành chịu, không sao thực thi được, võn vẹn chỉ vì tôi không phải là người Lào. Thế thôi.

Hơn nữa người Lào có nề nếp của họ, cách khôn khéo nhất là tôn trọng nó, vì họ chẳng cần và chẳng muốn ai thay đổi dù dưới bất cứ nhân danh, mỹ từ nào. Chính sách giao tế lối đàn anh kẻ cả, chơi trội chơi lướt không thể kéo dài lâu hơn nữa. Điều nầy có khác gì lẽ sống tối thượng của dân tộc ta cũng như của mọi dân tộc khác đâu. Bất kỳ nơi nào, thời nào đều lập đi lập lại triết lý xưa như trái đất: < Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân> nghĩa là " ta không muốn cái gì thì đừng bắt người khác chịu cái đó " . Vậy mà lịch sử cận đại còn di lưu nhiều bi hài kịch trớ trêu, mâu thuẩn: Dân Pháp chống ngoại xâm Đức Quốc Xã, trong khi thực dân Pháp lại xâm lăng lung tung. Dân hợp chủng Hoa Kỳ, dân Nga, yêu tự do, chuộng hoà bình bao nhiêu thì quân đội Mỹ, quân đội Nga đi đến đâu nơi đó tan nát, băng hoại bấy nhiêu. Dân tộc Do Thái vong quốc, lang thang trong 2000 năm: Ai cũng thương. Tái lập quốc năm 1948: Ai cũng ghét vì Israël hung hăng đánh chiếm xứ khác… Tôi may mắn học được Lào ngữ, đọc sách báo, nghe đài, nghe nhạc của họ soạn về dân tộc ta – qua hình ảnh Keo Đèng (việt đỏ = việt cộng), đặc biệt sau 1975, mà đớn đau, tê tái cho bài học lịch sử còn chưa ráo máu.

Riêng phần văn hoá – văn học, tôn giáo – tín ngưỡng , âm nhạc – truyền thông, ẩm thực … là những đề tài sâu rộng, xin hứa khả sẽ thực hành bổn phận trong một loạt bài khác nay mai.

[b]Hết phần lịch sử[/b]

[size=3][font="times new roman"]Chú thích: [/font][/size]
[size=3][font="times new roman"](1) Con số ước tính nầy bao gồm người Lào, H'Mông, Việt, Tàu và các bộ tộc sống trên đất Lào. [/font][/size]
(2) Sau 1976, quốc vương Sisavang Vattana và đông cung thái tử Soriya Savang Vong bị đưa đi cải tạo, cả hai đều mất trong trại năm 1978. Thái tử Soulivong Savang (con trai ĐCTT Savang Vong, cháu đích tôn vua Sisavang Vattana), sinh 08/05/1963, tị nạn tại Pháp từ 1981.

Tài liệu tham khảo chính:

Pháp ngữ:
Histoire du Laos, Paul Lévy, 1974 * Structures Religieuses lao, C-harles Archaimbault, 1973 * Cambodge – Laos – VietNam, Michel Blanc-hard, 1990 * Migrants et Réfugiés, Jean Luc Mathieu, 1991 * Encyclopaedia Universalis, 1985-2004 * Les Origines du Laos, Võ Thu Tịnh, 1983 * Le VietNam, Lê Thành Khôi, 1995 * Bulletin des Amis du Royaume Lao từ số 1 đến số 8, 1970-1973.

Lào ngữ:
Chao Anou: 1776-1829, Lưởng Càu Băn Há Mày ( Chao Anou: 1767-1892: Chuyện Cũ Vấn Đề Mới), Manhouri & Phoueiphanh Ngaosivat, VT 1988 * Phongsavadan Lao (dã sử Lào), Maha Sila Viravong, VT 1957 * Seng A Thit (Ánh Măt Trời), Sithoui Souvannasy, Paris 1991.

Việt ngữ:
Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, 1978 ( Sống Mới, HK) * Việt Nam Khảo Luận, 1-5, Hoàng Cơ Thụy, Paris 1989.

Và nhiều tài liệu Pháp-Anh cập nhật trên Internet.

Thảo luận cho bài: "Xứ Lào: Đất và Người"