Xứ Lào: Đất và Người

Tác giả:

1. Giới Thiệu


Từ trước tới nay, lỡ có nhắc tới xứ Lào, người ta – trong đó có cụ Nguyễn Hiến Lê, người mà tôi vẫn trọng như thầy – thường nhăn mặt, nhíu mày cho là nơi xa xôi, khỉ ho cò gáy; dân tộc Lào là dân tộc bán khai, văn mình Lào – nếu có – cũng chẳng ra cái gì so với gần 5 ngàn năm văn hiến của tổ quốc Việt Nam!

Định kiến trên không chỉ có trong những người chưa lần ghé qua xứ Lan-Xang (đọc Lản Xảng) mà ngay cả những ngoại kiều đến tá túc, làm ăn lâu năm hay những người sinh trưởng trên đất nước nầy – trong đó có người viết – cũng có lối nhìn rất phiến diện về dân tộc đã, đang cưu mang mình và chắc chắn sẽ còn cưu mang không biết đến bao giờ.

Đặc biệt Việt Nam thường nhìn dân tộc Lào qua cặp mắt và quan niệm của người ngoại quốc hay một số rất ít tác giả Lào soạn bằng Pháp văn hay Anh ngữ, tức gián tiếp dành riêng cho một nhúm người có cơ hội biết loại ngoại ngữ phổ thông nầy. Rồi từ cái nhìn qua cặp mắt, quan niệm của người khác đó, nhúm người kia – trong đó có tác giả bài nầy – khẩu truyền sự lệch lạc đọc được vào đại chúng, gây nên ngộ nhận bất công đáng tiếc không đầu không đuôi, không nguồn không ngon.

Hôm nay, không nề kiến văn kém cỏi, hiểu biết còn đơn sơ về một đề tài rộng lớn, tôi mạo muội tổng lược thành bài nầy như một kỷ niệm riêng, hồi hướng về nơi chốn mình sinh ra và lớn lên: Xứ Lào!

Quyết định viết bằng việt ngữ, mục đích nhỏ nhoi duy nhất của tác giả là phác hoạ Đất và Người Lào cho một số người Việt chưa có cơ hội học Lào, Pháp hay Anh ngữ, vậy thôi. Cho nên, trong loạt bài nầy, những gì đúng là nhờ tài liệu và các bạn Lào cung cấp hướng dẫn, còn những gì sai sót là lỗi của cá nhân tôi chưa nắm rõ vấn đề hoặc sơ xuất. Mong nhận được niềm thông cảm và sự chỉ giáo của mọi người.

Dân tộc Lào, quí vị là ai?
Người nào biết ăn xôi, ở nhà sàn và thổi khèn, người đó chính là người Lào. (thành ngữ Lào)

Ai Lao hay Pathet Lan Xang (xứ triệu thớt voi) nằm ở trung tâm lục địa Đông Nam Á.
Diện tích hiện nay: 236.800 cây số vuông ( dài 1162 cs, rộng 478 cs.
Dân số: 6.200.000 người ( 2005 )
gồm chung 49 bộ tộc (Phầu) chính như Lào (1.800.000 người, bộ tộc chủ thể, chiếm lĩnh đồng bằng), Khà-mú (506.250 người), H'mông (360.000 người ) Phu-thay (150.000 người ), Dao, Lôlô, La-u, Ka-tu, Phuan …, Thay đèng ( Thái đỏ ), Thay đằm ( Thái đen ), Thay kháo ( Thái trắng ) (1) … và ngoại kiều như Tàu (21.350 người ) và Việt (89.300 người ).
Thủ đô: Vientiane (2).
Cố đô: LuangPrabang. (Unesco công nhận là di sản thế giới từ năm 1995)
Ngôn ngữ và văn tự chính thức: Tiếng và chữ Lào (3).

Tôn giáo: Phật giáo tiểu thừa (Theravada): Quốc giáo (60%); các tôn giáo khác: 40% (Linh Hồn giáo và các tín ngưỡng khác – Thiên Chúa giáo: 1,5%)
Thổ ngữ : Môn-Khmer, Miến-Tạng.
Ngoại ngữ: Anh, Pháp, Việt và Hoa.
Tiền tệ: Kịp (1 Euro = 12.600Kips ; 1 USD = 10.000Kips; 1 VND = 0.63Kip – 16/05/05)
Tài nguyên thiên nhiên: Rừng, Kẻm, Sắt, Than, Vàng, Đá quí, Thạch cao …
Xuất khẩu: 332 tỉ/USD ; Nhập khẩu: 492 tỉ/USD (2003)
Lực lượng lao động: 2.6 triệu (2001)
Lạm phát: 7.8% (2001)
Thu nhập bình quân: 330USD/người/năm (2003)

Lãnh thổ Lào có chung biên giới với các nước lớn mạnh hơn mình như :
Đông: Việt nam (2069 cs )
Tây Bắc: Trung Hoa (505 cs ) và Miến Điện ( 236 cs)
Đông Nam: Kampuchia (435 cs),
Tây: Thái Lan (1835 cs ).

Riêng biên giới Thái-Lào dọc theo hữu ngạn sông Mêkông phía Đông Bắc xứ Thái hiện nay có 1.800 cây số là biên giới nhân tạo vô cùng oan nghiệt do thực dân Pháp-Anh toa rập cắt của Vương Quốc Lào ký ráp vào đất Thái từ tháng 5 năm 1941. Địa danh vùng biên giới nầy, gồm 16 tỉnh thành ( síp hôốc chăng wặt), nơi tập trung đông đảo người Việt, và dân số các bộ tộc Lào ở đây (tục gọi là Thay I-Xán ) đông gấp 3 lần (21 triệu năm 2004 ) tổng số dân bên mẫu quốc (6.2 triệu). Bao giờ châu trở về hợp phố đây?

Đất Lào không có ngõ ra biển, lại chưa có đường xe lửa. Một dải Trường Sơn rộng lớn từ miền Đông Bắc trải dài xuống tạo thành cột xương sống thiên nhiên kiên cố phân ranh tổ quốc Việt Nam và quê hương Lào, ngăn chống cho đất nước nầy khỏi nạn thiên tai, bão lụt hàng năm như các nước láng giềng. Tả ngạn sông Mêkông, từ Huội-Sai phía Bắc, đặc biệt từ địa phận thủ đô Vientiane xuống các thành phố đông dân như Paksane, Thakhek (Khammouane), Savannakhet, Paksé … ôm ấp xứ Lào như cánh tay người mẹ hiền – dài 1.800 cs – , trìu mến bảo bọc đứa con nhu hoà nhưng yếu đuối – ngoài cá và điện – hàng năm mẹ " thiên vị " gom phù sa vào đồng vào ruộng của nó cho lúa nếp xanh tốt, trù phú < khậu tềm na, pà tềm nảm > ( lúa đầy đồng, cá đầy sông ) mà hầu như không phải đầu tắt mặt tối, do đó chưa bao giờ nơi đây phải cất tiếng than < xôi không đủ ăn, áo không đủ mặc >. Miền đất nầy là miền của gió bấc, gió nồm với 5 tháng mưa ( từ tháng 5 đến tháng 9 ) khí hậu ảm ướt và nóng ; 7 tháng nắng ( từ tháng 10 đến tháng 4 ) khí hậu mát, thỉnh thoảng, tùy vùng, có chút thay đổi thời tiết giữa tháng 7 và tháng 8 khi lúa đã được cấy lại.

Trước 1975, lãnh thổ Vương Quốc Ai Lao gồm 16 khoéng ( tỉnh ), sắp từ Bắc xuống Nam : 1. Phong Saly, 2. Houa Khong, 3. LuangPrabang, 4. Houa Phanh, 5. Xieng Khoang, 6. Sayaboury, 7. Vientiane, 8. Borikhane, 9. Khammouane, 10. Savannakhet, 11. Saravane, 12. Wapikhamthong, 13. Sédone, 14. Champassak, 15. Sithandone và 16. Attapeu. (Các địa danh nầy và ở dưới tôi cố ý để nguyên phiên âm la-tinh).

Quốc huy: Nền đỏ, ở giữa là hình voi trắng ba đầu.
Voi trắng có 3 đầu tượng trưng ba vương triều quy về một mối.

Hiện nay ( 2004 ) lãnh thổ Lào được chia thành 18 khoéng (tỉnh), sắp theo thứ tự ABC : 1. Attapeu, 2. Bokeo, 3. Bolikhamsay, 4. Champassak, 5. Houaphanh, 6. Khammouane, 7. LuangNamtha, 8. LuangPrabang, 9. Oudomsay, 10. PhongSaly, 11. Saravane, 12. Savannakhet, 13. Sékong, 14. Vientiane (ville), 15. Vientiane ( province ), 16. Saygnaboury, 17. Saysomboun, và 18. Xiêng Khoang.

Quốc kỳ Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào ( CHDCND Lào ) từ 2.12.1975 :

2/4 trên và dưới màu đỏ, 2/4 giữa màu xanh dương đậm cắt ngang, trung tâm là vòng tròn trắng. Màu đỏ : tượng trưng cho máu của con dân liệt sĩ hy sinh vì độc lập ; màu xanh dương đậm : Tài nguyên đất nước ; màu trắng : Đồng thuận dân tộc.

Kích thước chính xác theo hiến pháp 15/08/1991:

Chiều dọc = 2/3 chiều ngang. Mỗi băng đỏ trên và dưới = 1/2 băng xanh dương đậm ; hình tròn trắng ở giữa = 4/5 chiều dọc băng xanh dương đậm.

Quốc huy CHDCND Lào từ 2.12.1975:

Hình nửa cái bánh xe có răng cưa và giải băng đỏ ghi "Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào" ; hai bên là hai bó luá chín thắt nơ đỏ có hàng chữ "Hoà Bình – Độc Lập – Dân Chủ – Thống Nhất – Thịnh Vượng" ; nơi giao đầu của hai bó luá có hình tháp That Luang , dưới là một con đường, một đồng ruộng, một cánh rừng và một đập thủy điện.

Quốc ca CHDCND Lào từ 2.12.1975:

Nguyên tác nhạc & lời của Thongdy Sounthone Vichit (1905-1968), sáng tác năm 1941, trở thàng quốc ca của Vương Quốc Lào năm 1947 ; lời mới hiện nay do Sisana Sisane (1922 – ).

Chú thích:

Chú thích:
(1) Thái đỏ là do màu đỏ thường thấy trên vải dùng may váy ( sà rông ) của phụ nữ tộc nầy. Thái trắng là do màu áo chẻn, áo cộc của phụ nữ tộc nầy. Còn Thái đen là do màu áo dài của phụ nữ tộc nầy.
(2) Tên Ai Lao là do người Việt đặt ra cho nước Lào, phiên âm từ chữ Ngai-Lao của Tàu. Laos (với chữ S đằng sau ) là do người Pháp và người Ý đặt ra khi làm bản đồ Đông Dương để chỉ định địa danh nước Lào từ thế kỷ XVIII ( theo Histoire du Laos của Paul Lévy dẫn từ Histoires Nouvelles et Curieuses des Royaumes de Tonkin et du Laos của P. de Marini, Paris 1666, tr. 329 ).

Cho tới ngày nay, khi nói tới thủ đô Vientiane, người Việt nói chung thường gọi theo phiên âm từ chữ Wentan của Tàu hay Vientiane của Tây thành thủ đô Vạn Tượng ( như khi gọi Paris thành Ba Lê, Washington thành Hoa Thịnh Đốn… ), gọi xứ Lào thành xứ Vạn Tượng. Xứ Lào hay Pathet Lan Xang tức Xứ Triệu Voi, vậy chữ Vạn trong Vạn Tượng ta dùng với nghĩa " nhiều lắm " như khi nói Vạn Dân, Vạn Sự, Vạn Thế …

(3) Xứ Lào còn một ngôn ngữ và văn tự chính thức khác là Năng Sứ Thăm, xuất phát từ Phạn-ngữ, thường được sử dụng trong tăng giới; tương tự chữ Nôm có gốc từ chữ Hán.

Chương tiếp: Lược sử xứ Lào

Thảo luận cho bài: "Xứ Lào: Đất và Người"